• Trang chủ
  • Bàn tròn
  • Xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực người nông dân văn minh
07:10 - 07/10/2021

Xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực người nông dân văn minh

Sau hơn 30 đổi mới, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã có chuyển biến tích cực, đạt kết quả quan trọng… Tuy nhiên, những giá trị văn hóa và chuẩn mực con người mới, hiện đại, phù hợp với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa được tiếp nhận rộng rãi và phát huy trong cuộc sống. Chính vì vậy, Đảng ta đã nhấn mạnh và làm rõ hơn yêu cầu về quan điểm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện: “Xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới”.

Mô hình khu dân cư tự quản góp phần thực hiện hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”. Ảnh: Anh Vũ

Người nông dân Việt Nam trong nền văn hóa truyền thống thấm đẫm các đức tính cần cù, chịu khó, sáng tạo trong lao động, dũng cảm vượt khó khăn, khiêm tốn, giản dị, khoan dung, yêu nước, yêu con người và sống thích ứng. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của văn hóa tiểu nông trong một thời gian rất dài nên những hạn chế, chứng bệnh, thói tật tiêu cực của văn hóa tiểu nông là không thể tránh khỏi, không thể khắc phục ngày một ngày hai, cản trở quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, hiện đại hóa nông thôn. Việc xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực của người nông dân văn minh, phù hợp với sự nghiệp công nghiệp hóa nông nghiệp, hiện đại hóa nông thôn, bảo đảm cho sự phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, con người đã trở thành một nhu cầu bức thiết.

Những hạn chế của nông dân Việt Nam trong nền văn hóa tiểu nông

Người dân Việt Nam trong truyền thống sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước, một nghề có tính thời vụ rất cao và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Vào năm 1945, tỷ lệ người sống ở nông thôn chiếm trên 90% dân số Việt Nam(1), điều đó cho thấy trước năm 1945 tỷ lệ này chắc chắn còn cao hơn nhiều. Do sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún, không gian sống thường bó hẹp sau lũy tre làng nên người dân Việt Nam gắn liền với văn hóa tiểu nông. Vì thế, trong truyền thống, chất nông dân – nông thôn – sản xuất nhỏ, manh mún giữ vai trò chủ đạo chi phối đời sống văn hóa, con người Việt Nam. Sau hơn 30 năm đổi mới (từ 1986), nông nghiệp – nông dân – nông thôn Việt Nam đã có nhiều thay đổi căn bản, nhưng hạn chế của người dân Việt Nam trong nền văn hóa tiểu nông vẫn tồn tại, trở thành rào cản cho sự nghiệp công nghiệp hóa nông nghiệp, hiện đại hóa nông thôn. Vì vậy, nhận diện rõ những hạn chế này để khắc phục, xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực người nông dân Việt Nam văn minh với tư duy hiện đại, hội nhập trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn là rất cần thiết và cấp bách.

Văn hóa tiểu nông là sự phản ánh trực tiếp đời sống kinh tế – xã hội của người dân Việt Nam. Đó là phương thức sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, mang tính tự phát, manh mún, tự cung, tự cấp. Kết quả nghiên cứu của nhiều học giả cho thấy một số hạn chế cơ bản của người dân Việt Nam trong nền văn hóa tiểu nông như sau:

Thói dựa dẫm, ỷ lại: Trong cuộc sống, chúng ta đã từng nghe không ít hơn một lần những câu nói thể hiện hạn chế này, như: “Cha chung không ai khóc”, “Lụt thì lút cả làng”, “Nước trôi thì bèo trôi”… Thói dựa dẫm, ỷ lại là biểu hiện của lối sống ăn bám, trốn tránh trách nhiệm, tạo nên cách ứng xử lúc nào làm việc gì cũng phải nhìn xung quanh, xem mọi người nói thế nào, làm thế nào để dựa vào đó để mình nói, mình làm. Thói dựa dẫm, ỷ lại đã làm triệt tiêu vai trò cá nhân, không ai dám bày tỏ chính kiến, quan điểm riêng.

Thói cào bằng, đố kỵ: Cào bằng, đố kỵ là không muốn cho ai hơn mình, rồi sinh ra kèn cựa, tị nạnh, ghen ăn tức ở. Những câu truyền thống của người Việt Nam thường thấy về hạn chế này, như: “Xấu đều hơn tốt lỏi”, “Con gà tức nhau tiếng gáy”, “Trâu buộc thì ghét trâu ăn”… Thói cào bằng, đố kỵ đã tạo môi trường không cho những sáng kiến, tài năng được bộc lộ, hạn chế sự giải phóng năng lực cá nhân, độc lập suy nghĩ và phát triển khả năng của mình. Điều đó rất có hại cho sự phát triển của xã hội.

Thói hẹp hòi, ích kỷ, bè phái: Hạn chế này làm cho người Việt Nam có tâm lý ai có thân thì lo: “Bè ai người ấy chống”, “Thân trâu trâu lo, thân bò bò liệu”… Ngay đến cả quan hệ anh chị em ruột vẫn tồn tại quan niệm: “Anh/Chị em kiến giả nhất phận”. Thói hẹp hòi, ích kỷ khi đi với thói gia trưởng sẽ tạo tâm lý “quyền huynh thế phụ”, áp đặt ý muốn của mình cho người khác, tạo nên tư tưởng thứ bậc vô lý: “Sống lâu lên lão làng”. Thói hẹp hòi, ích kỷ sinh ra thói bè phái, địa phương cục bộ: “Ăn cây nào rào cây ấy”, “Trâu ta ăn cỏ đồng ta”… Hẹp hòi, ích kỷ, bè phái cản trở cho sự phát triển, không muốn cho ai vượt lên, khiến cho việc hợp tác với nhau rất khó khăn.

Thói sĩ diện, háo danh, kiêu ngạo: Thích khoe khoang, phô trương là biểu hiện của thói sĩ diện. Sĩ diện thường sinh ra kiêu ngạo, không muốn ai góp ý cho mình. Thèm muốn vị trí tốt, vị trí cao trong xã hội là thói háo danh; xưa thì đi học chỉ cốt làm quan, nay đi học thì ai cũng có vào đại học, thích có nhiều bằng cấp… Thói sĩ diện, háo danh làm cho con người ta luôn ưa nịnh, thích được khen, sinh ra nạn chạy chọt đủ thứ.

Thói thụ động, bảo thủ: Do người Việt sống chủ yếu bằng nghề làm lúa nước phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên sinh ra thói thụ động, bảo thủ. Thói thụ động chính là việc một cá nhân hay tập thể phải chờ đợi một tác động từ bên ngoài đến sau đó mới bắt đầu thực hiện công việc; làm mọi thứ theo kinh nghiệm có sẵn mà ít quan tâm đến hiệu quả. Thói bảo thủ thường từ chối lắng nghe và bướng bỉnh khiến họ khó chấp nhận cái mới và cứ phải sống mãi trong lối nghĩ cũ, khó thay đổi, không linh động. Thói thụ động, bảo thủ làm cho con người trở nên thụt lùi, chậm chạp, lề mề, mất đi sự nhanh nhạy, sáng tạo và hoạt bát, không chính kiến, không bản lĩnh, không dám nhận trách nhiệm, nhu nhược.

Nhiều năm qua việc thực hiện mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở TP. Cần Thơ đã đem lại hiệu quả cao. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Thói chậm chạp, lề mề: Thói chậm chạp, lề mề do sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, tuân theo triết lý thời gian mùa vụ. Mặt khác, với cuộc sống chỉ khép kín, bóp hẹp sau lũy tre làng, theo một nhịp thời gian ổn định, mùa nào việc ấy nên con người không bao giờ vội vã: “Sớm chẳng vội, tối chẳng lo” “Sớm rửa cưa, trưa mài đục”, “Nước đến chân mới nhảy”…. Thói chậm chạp, lề mề là cách ứng xử thụ động, bảo thủ, thiếu hiểu biết, không biết tính toán, lo toan không phù hợp với lối sống công nghiệp, sản xuất lớn đòi hỏi mọi việc phải được giải quyết chính xác, nhanh gọn, khoa học.

Thói tủn mủn, thiếu tầm nhìn: Do lối làm ăn sản xuất nhỏ mà sinh ra thói tủn mủn, thiếu tầm nhìn, “đến đâu hay đến đó”, “nước đến chân mới nhảy”. Biểu hiện của thói tủn mủn, thiếu tầm nhìn thường hay bỏ qua tổng thể mà sa đà vào chi tiết, nhìn thấy cái nhỏ mà bỏ qua cái lớn, nhìn thấy cái trước mắt mà bỏ qua cái lâu dài, không biết tính toán, mọi thứ loay hoay giậm chân tại chỗ, công việc kém hiệu quả.

Thiếu bản lĩnh, tự tin: Từ thói hay dựa dẫm, ỷ lại, không có quan điểm, chính kiến riêng nên thiếu bản lĩnh, tự tin. Những biểu hiện thiếu bản lĩnh, tự tin thường là nhút nhát, ngại va chạm, luôn cảm thấy lo sợ, chưa làm đã sợ thất bại, không có lòng dũng cảm, ý chí kiên cường, dám nghĩ, dám làm, làm những gì mà bản thân tin vào, dám đối mặt với thực tế, không ngại thách thức và sẵn sàng chịu trách nhiệm. Người thiếu bản lĩnh, tự tin khi gặp thất bại rất dễ gục ngã, nhanh chóng từ bỏ.

Thói tùy tiện, cẩu thả: Thói tùy tiện, cẩu thả có nhiều biểu hiện trong cả nhận thức, ứng xử và hành động, trong việc sử dụng thời gian và không gian. Trong cuộc sống ngày nay, ta thấy nhiều biểu hiện của thói tùy tiện, cẩu thả như: Không đúng giờ, chiếm dụng vỉa hè lòng đường, trong ăn mặc, giao tiếp, trong tham gia giao thông, các loại “giấy phép con”…

Thiếu ý thức pháp luật: Ta thường nghe câu nói: “Phép vua thua lệ làng” cho thấy hàm ý phê phán tình trạng pháp luật không nghiêm. Đây là một trong những hạn chế lớn của người Việt Nam, là một biểu hiện tập trung và nghiêm trọng nhất của thói tùy tiện, cẩu thả. Vì thế, biểu hiện này rất dễ thấy trong đời sống xã hội cho đến ngày nay, như việc chấp hành Luật Giao thông đường bộ: tình trạng giao thông, lấn chiếm vỉa hè, chợ cóc nhất là ở các thành phố lớn; ở nông thôn thì việc phơi rơm rạ trên mặt đường; để trâu bò đi lại trên đường quốc lộ… Thiếu ý thức pháp luật tức là thiếu ý thức chấp hành các quy định của cuộc sống. Trong đại dịch Covid – 19 đang diễn ra vô cùng phức tạp hiện nay, nhưng nhiều người dân không chấp hành quy định giãn cách xã hội nên gây khó khăn trong việc dập dịch, kiểm soát dịch bệnh.

Sự cần thiết phải xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực nông dân văn minh

Sau hơn 30 năm đổi mới, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã có chuyển biến tích cực, đạt kết quả quan trọng. Nhận thức về văn hóa, xã hội, con người ngày càng toàn diện, sâu sắc hơn. Đời sống văn hóa của nhân dân ngày càng phong phú, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc được phát huy, nhiều chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới được hình thành. Tuy nhiên, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam chưa được quan tâm đúng mức, vai trò của văn hóa trong xây dựng con người chưa được xác định đúng tầm để thật sự trở thành nguồn lực, động lực nội sinh của sự phát triển bền vững đất nước. Tác động tiêu cực của văn hóa tiểu nông đến người dân Việt Nam nói chung và nông dân nói riêng còn nặng nề; những hạn chế, chứng bệnh, thói tật tiêu cực nói trên vẫn còn khá phổ biến trong xã hội; những giá trị văn hóa và chuẩn mực con người mới, hiện đại, phù hợp với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa được tiếp nhận rộng rãi và phát huy trong cuộc sống. Chính vì vậy, Đảng ta đã nhấn mạnh và làm rõ hơn yêu cầu về quan điểm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện: “Xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới”(2).

Công nghiệp hóa nông nghiệp, hiện đại hóa nông thôn là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời, vai trò chủ thể của người nông dân trong công nghiệp hóa nông nghiệp, hiện đại hóa nông thôn cũng được Đảng và Nhà nước ta khẳng định. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để người nông dân thật sự là chủ thể trong công nghiệp hóa nông nghiệp, hiện đại hóa nông thôn? Điều đó chỉ có khi mà nông dân Việt Nam thấm đẫm những giá trị văn hóa và chuẩn mực của nông dân văn minh, đủ sức là chủ thể thật sự trong công nghiệp hóa nông nghiệp, hiện đại hóa nông thôn.
Đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa nông nghiệp, hiện đại hóa nông thôn là phải giải phóng mọi năng lực sản xuất, giải phóng mọi tiềm năng sáng tạo của cá nhân. Giá trị văn hóa và chuẩn mực người nông dân văn minh chính là động lực sáng tạo cá nhân, động lực giải phóng năng lực sản xuất nên rất cần được xây dựng và phát triển.

Dân số nông nghiệp và nông thôn ở nước ta hiện nay chiếm một tỷ trọng khá lớn (Theo Thông cáo báo chí kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 của Tổng cục Thống kê, dân số ở nông thôn Việt Nam chiếm 65,6%). Đây là lực lượng có vai trò quyết định quan trọng đến sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Một khi hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực người nông dân văn minh hình thành và phát triển, người nông dân sẽ ý thức hơn đến vai trò chủ thể trong sản xuất và xây dựng nông thôn mới, quan tâm hơn đến sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ chế biến, bảo quản, tiêu thụ; quan tâm đến các yếu tố thị trường như cung – cầu, giá cả, sản phẩm và khách hàng; năng lực cạnh tranh, xây dựng thương hiệu, phát huy lợi thế, đầu tư và mở rộng quy mô sản xuất; ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, bảo vệ môi trường sinh thái, đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi; chuyển biến sâu sắc về ý thức trách nhiệm cao với xã hội, xây dựng đời sống văn hóa, nông thôn mới kiểu mẫu và bảo vệ môi trường sinh thái.

Ban quản lý thôn Đông Thượng, xã Lãng Sơn (Yên Dũng, Bắc Giang) kiểm tra việc tu sửa các công trình văn hóa. Ảnh: C.D

Nông dân Việt Nam trong nền văn hóa truyền thống thấm đẫm các đức tính cần cù, chịu khó, sáng tạo trong lao động, dũng cảm vượt khó khăn, khiêm tốn, giản dị, khoan dung, yêu nước, yêu con người và sống thích ứng. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của văn hóa tiểu nông trong một thời gian rất dài nên những hạn chế, chứng bệnh, thói tật tiêu cực của văn hóa tiểu nông là không thể tránh khỏi, không thể khắc phục ngày một ngày hai, cản trở quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, hiện đại hóa nông thôn. Việc xây dựng hệ giá trị và chuẩn mực của người nông dân văn minh, phù hợp với sự nghiệp công nghiệp hóa nông nghiệp, hiện đại hóa nông thôn, bảo đảm cho sự phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, con người đã trở thành một nhu cầu bức thiết. Văn hóa phản ánh cuộc sống của con người. Vì vậy, theo quy luật phát triển, cuộc sống sẽ bắt buộc hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người mới hình thành và phát triển. Bằng hoạt động sản xuất, kinh doanh trong quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, hiện đại hóa nông thôn, với sự phát huy cao độ những giá trị văn hóa truyền thống, xác lập những giá trị nhân văn, dân chủ và khoa học, đón nhận và tiếp thu những giá trị hiện đại, nông dân Việt Nam sẽ sáng tạo và hình thành giá trị văn hóa và chuẩn mực mới trong cuộc sống, từ đó sẽ hình thành hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực người nông dân văn minh.

Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, sự biến động của hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam đang diễn ra dưới nhiều biểu hiện khác nhau: có sự biến mất và triệt tiêu của các giá trị và chuẩn mực cũ; có sự xuất hiện các giá trị và chuẩn mực mới; có sự thu nhận và cải biến một số nội dung, giá trị và chuẩn mực bên ngoài. Đây là sự biến động có ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi thành phần trong xã hội, đến mỗi con người. Theo nghiên cứu của các học giả, kết quả của quá trình từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam cho thấy một số giá trị và chuẩn mực mới đang thay thế cho những hạn chế, chứng bệnh, thói tật tiêu cực. Cụ thể: Bản lĩnh cá nhân dần được khẳng định thay thế cho thói dựa dẫm, ỷ lại; Tính dân chủ, trung thực, thẳng thắn thay cho thói cào bằng, đố kỵ; Tinh thần hợp tác, làm việc nhóm thay cho thói hẹp hòi, ích kỷ, bè phái; Tinh thần doanh nghiệp thay cho thói thụ động, khép kín, bảo thủ; ý thức chấp hành pháp luật thay cho thói thiếu ý thức chấp hành pháp luật; Tính nguyên tắc, chuyên nghiệp thay cho thói tùy tiện, cẩu thả; tính tự trọng thay cho thói sĩ diện, háo danh… Những giá trị và chuẩn mực nói trên cũng chính là yêu cầu giá trị và chuẩn mực của người nông dân văn minh.

Một số giải pháp chủ yếu

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp công nghiệp hóa nông nghiệp, hiện đại hóa nông thôn đã đạt được nhiều thành tựu. Nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề; các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục đổi mới. Đời sống vật chất và tinh thần của dân cư ở hầu hết các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện, góp phần quan trọng phát triển kinh tế – xã hội của cả nước, đặc biệt là trong giai đoạn nước ta chịu tác động của đại dịch Covid – 19; củng cố và nâng cao niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Những giá trị văn hóa và chuẩn mực người nông dân Việt Nam văn minh đã hình thành những biểu hiện ở mức độ còn mờ nhạt, xuất hiện ở một bộ phận nhỏ nông dân Việt Nam, chưa có sức thu hút và lan tỏa. Vì vậy, cần triển khai đồng bộ, hiệu quả một số nhóm giải pháp chủ yếu xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực của nông dân văn minh như sau:

Một là, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vị trí, vai trò của hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực của nông dân văn minh đối với sự phát triển của đất nước nói chung và quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, hiện đại hóa nông thôn nói riêng. Hiện nay, xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực nông dân văn minh là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng, Nhà nước và của cả hệ thống chính trị. Điều này càng trở nên quan trọng hơn khi nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực nông dân văn minh xét cho đến cùng chính là vì con người, vì sự ấm no, hạnh phúc của con người. Nông dân vừa là chủ thể của quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, hiện đại hóa nông thôn, vừa là chủ thể sáng tạo và xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực người nông dân văn minh, đồng thời cũng là người thụ hưởng những thành quả của phát triển.

Hai là, đẩy mạnh xây dựng nông dân Việt Nam vừa thấm đẫm các giá trị truyền thống như: Đức tính cần cù, chịu khó, sáng tạo trong lao động, dũng cảm vượt khó khăn, khiêm tốn, giản dị, khoan dung, yêu nước, yêu con người và sống thích ứng, đồng thời, có tư duy đổi mới, năng động, sáng tạo, tinh thần doanh nghiệp cháy bỏng, không ngại với khó khăn và gian khổ, có ý chí vươn lên, thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu; có suy nghĩ độc lập, tự trọng, tự chịu trách nhiệm, có tinh thần hợp tác, làm việc có hiệu quả, chuyên nghiệp; dân chủ, trung thực, thẳng thắn, tuân thủ pháp luật, chăm lo xây dựng cộng đồng. Xây dựng gia đình, làng quê ổn định, đoàn kết, hòa thuận, bình đẳng, hạnh phúc, kỷ cương, nền nếp, đời sống vật chất và tinh thần phong phú, lành mạnh, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Lễ cúng mừng lúa mới của đồng bào buôn Treng, xã Ea H’leo (huyện Ea H’leo). Ảnh: H. Gia

Ba là, xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực của nông dân văn minh gắn với quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, hiện đại hóa nông thôn. Thực hiện đổi mới mạnh mẽ hơn mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại ngành Nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, phát huy tiềm năng lợi thế của từng địa phương, vùng, miền; xây dựng bổ sung và đồng bộ các cơ chế, chính sách thiết thực, quy định pháp lý rõ ràng về phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn; về thể chế liên kết vùng giữa các địa phương và phát huy vai trò của vùng động lực với vùng còn khó khăn, góp phần thu hẹp sự chênh lệch về phát triển giữa các vùng và dân tộc ở nước ta.

Bốn là, đẩy mạnh công tác đào tạo để xây dựng lớp nông dân thế hệ mới – nông dân văn minh có được các kiến thức vừa cơ bản vừa tổng quan về lập kế hoạch sản xuất, phân tích thị trường, ứng dụng khoa học công nghệ, hợp tác sản xuất kinh doanh…; hướng dẫn, hỗ trợ nông dân khởi nghiệp, kết nối tiêu thụ nông sản và chuyển đổi số trong nông nghiệp; về giống, vốn, vật tư nông nghiệp, khoa học kỹ thuật, công nghệ; tạo nguồn lực để thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, mở rộng sản xuất, cơ giới hóa nông nghiệp nâng cao năng suất lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn… Mặt khác, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực của nông dân văn minh cần được cụ thể hóa theo hướng dễ đọc, dễ nhớ, dễ làm theo để tuyên truyền, giáo dục và thực hành trong cuộc sống lao động, sản xuất hàng ngày của người nông dân.

Năm là, phát huy vai trò trung tâm, nòng cốt của Hội Nông dân Việt Nam trong việc xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực của nông dân văn minh gắn với công nghiệp hóa nông nghiệp, hiện đại hóa nông thôn. Trên cơ sở bám sát quan điểm, mục tiêu, những nội dung trọng tâm, giải pháp trong việc xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực của nông dân văn minh, để đẩy mạnh phong trào “Nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững”, tuyên truyền tới cán bộ, hội viên, nông dân làm chuyển biến nhận thức, thay đổi tư duy kinh tế của hội viên nông dân, từ sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn, liên kết, hợp tác; từ sản xuất truyền thống, kinh nghiệm sang ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ cao và bảo vệ môi trường; từ coi trọng năng suất, sản lượng sang chất lượng, giá trị gia tăng và an toàn thực phẩm; sản xuất phải gắn với thị trường; thôi thúc ý chí không cam chịu đói nghèo, quyết tâm vươn lên làm giàu chính đáng. Đẩy mạnh thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, vận động nông dân xây dựng gia đình văn hóa; tham gia xây dựng thôn, làng, ấp, bản văn hóa; giao lưu rộng rãi giữa các vùng, miền, dân tộc góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, truyền thống đoàn kết của dân tộc.

Nông dân là chủ thể của sự nghiệp công nghiệp hóa nông nghiệp, hiện đại hóa nông thôn. Đảng ta đã khẳng định “cơ cấu lại nông nghiệp, phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh”(3). Nông dân văn minh là lớp nông dân Việt Nam thế hệ mới gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại.

Trần Quốc Dân
Nguyên Phó Giám đốcNXB Chính trị Quốc gia Sự thật

(1) Tống Văn Chung: Xã hội học nông thôn, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Hội, Hà Nội, 2001, tr.169.
(2), (3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t.I, 2021, tr 143, 143.

Chủ đề:
Bạn đang xem danh mục: Bàn tròn
Tin cập nhật
Sự kiện
Tam nông
  • Tăng thu nhập từ nghề ươm cây giống

    Từ chỗ mạnh ai nấy làm, ông Hồ Văn Tiềm đã vận động thành lập Tổ hợp tác Sản xuất cây giống. Tổ hợp tác đã giúp đỡ hàng chục hộ nông dân tăng thu nhập từ nghề ươm cây giống. Hiệu quả từ mô hình tổ hợp tác Năm 2007, gia đình ông Hồ […]

  • Nông nghiệp, nông thôn chỗ dựa cho dòng người hồi hương giữa đại dịch

    Những dòng người lao động từ các thành phố, khu công nghiệp về quê, chỗ dựa giúp người lao động có thể ổn định cuộc sống và tâm lý vượt qua đại dịch chính là sản xuất nông nghiệp. Nông nghiệp phát huy vai trò trụ đỡ Đại dịch Covid-19 ngành nông nghiệp lại được […]

  • Thành tỷ phú từ “thú vui” nuôi chim bồ câu

    Ban đầu chỉ với vài cặp bồ câu lai Pháp về cho vợ nuôi làm thú vui và để tẩm bổ, không ngờ từ thú vui ấy đã giúp cho gia đình anh Trần Công Chiến (xã Minh Long, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước) trở thành tỷ phú từ con vật nuôi này. Từ […]