• Trang chủ
  • Bàn tròn
  • Một số khía cạnh về phân tầng xã hội nông thôn và gợi mở hướng chính sách mới
07:12 - 15/10/2021

Một số khía cạnh về phân tầng xã hội nông thôn và gợi mở hướng chính sách mới

Từ nghiên cứu về phân tầng xã hội nói chung và một số khía cạnh về phân tầng xã hội ở nông thôn Việt Nam trong quá trình chuyển đổi, với phương pháp tổng hợp và khái quát hóa các nguồn tài liệu thứ cấp, bài viết nghiên cứu này tập trung phân tích một số khía cạnh bất cập và thách thức phân tầng xã hội, đồng thời đưa ra các thông điệp và gợi ý hướng chính sách liên quan đến định hướng giải pháp mới nhằm giảm thiểu bất bình đẳng, cơ hội phát triển giữa các vùng, cộng đồng nông thôn hướng đến mục tiêu phát triển bền vững và bao trùm ở Việt Nam.

Xây dựng đường hoa nông thôn mới ở xã Vĩnh Long (Vĩnh Linh, Quảng Trị). Ảnh: Q.T

Đặt vấn đề

Bàn về phân tầng xã hội, các nhà xã hội học thường dùng thuật ngữ các tầng địa chất học để chỉ sự khác biệt về cuộc sống của mọi người, với hàm ý các nhóm người, cũng như các tầng địa chất có thể xếp từ tầng thấp đến tầng cao nhất. Sự phân chia tầng xếp như vậy có thể được gọi là phân tầng xã hội, tức là sự bất bình đẳng một cách hệ thống về của cải, quyền lực, và vị thế do bậc thang xã hội tạo nên (Weber 1947). Có thể nhận thấy quan niệm phổ biến hiện nay đều thống nhất cho rằng phân tầng xã hội là sự phân chia xã hội ra thành các tầng lớp khác nhau trong xã hội, dựa vào các yếu tố quyền lực, kinh tế, văn hóa các cá nhân sẽ được sắp xếp vào mỗi tầng lớp phù hợp.

Về mặt học thuật, nhìn lại lịch sử cho thấy đến nay có nhiều quan điểm khác nhau lý giải về phân tầng xã hội. Các đại biểu thuộc trường phái Mác xít, đại diện là Mác và Ăngghen lý giải tập trung vào yếu tố kinh tế, giai cấp được quyết định hoàn toàn bởi mối quan hệ của cá nhân với phương thức sản xuất, nghĩa là họ có kiểm soát cơ hội cuộc sống của họ hay không.

Quan điểm của trường phái phi Mác xít, đại biểu là Weber đã hoàn toàn không phản đối việc phân chia giai cấp từ góc độ kinh tế. Ông khẳng định việc phân chia nhấn mạnh đến khía cạnh kinh tế là chưa đủ để nhận diện xã hội. Cần có một hệ thống phức tạp hơn để phân chia giai cấp. Như vậy, có thể nói phân tầng xã hội là sự phân chia các cá nhân hay nhóm xã hội thành các tầng lớp khác nhau và được sắp xếp theo những thứ bậc trong hệ thống. Mỗi tầng bao gồm các cá nhân, nhóm xã hội có địa vị kinh tế, chính trị và uy tín tương tự gần với nhau. Hệ thống xếp hạng thứ bậc này là một cơ cấu bất bình đẳng đã ăn sâu vào cấu trúc và là thuộc tính của cơ cấu xã hội. Điều đáng quan tâm là sự bất bình đẳng này có thể được trao truyền qua các thế hệ. Trong hệ thống phân tầng, các thành viên sẽ khác nhau về khả năng thăng tiến (di động) bởi địa vị không giống nhau của họ trong bậc thang xã hội.

Nông thôn Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất ấn tượng về phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa sau 35 năm Đổi mới. Từ một đất nước nghèo nàn vì hậu quả hai cuộc chiến tranh chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình (2010), tăng trưởng kinh tế luôn duy trì ở mức cao so với các nước trong khu vực và thế giới. Một xã hội với xuất phát điểm mặt bằng dân trí thấp, các quyền cơ bản của con người chưa được đảm bảo trong đời sống xã hội, đến nay Việt Nam được Chương trình phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) đánh giá là quốc gia đang có nhiều tiến bộ về phát triển con người và giảm nghèo đa chiều, chỉ số HDI tăng liên tục trong 27 năm qua. Với chỉ số 0,694 trong năm 2017, Việt Nam đứng thứ 116 trong tổng số 189 nước được đánh giá về chỉ số HDI, thuộc nhóm trung bình cao và Việt Nam chỉ cần đạt thêm 0,006 điểm để nâng hạng lên mức phát triển con người cao (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2018). Trong quá trình phát triển, Việt Nam cũng không ngừng nâng cao dân trí, mở rộng các cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cho mọi tầng lớp nhân dân, Việt Nam cũng thực hiện tốt các lĩnh vực y tế và giáo dục. Tuổi thọ kỳ vọng của Việt Nam là 76,5 năm, đứng thứ hai ở khu vực châu Á và Thái Bình Dương, sau Hàn Quốc. Số năm đi học trung bình của Việt Nam là 8,2 – cao hơn mức trung bình của khu vực Đông Á và Thái Bình Dương (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2018). Số liệu thống kê nghèo đa chiều toàn cầu năm 2018 cũng cho thấy, Việt Nam có những tiến bộ quan trọng trong việc đạt được Mục tiêu phát triển bền vững số 1 về giảm nghèo (1 trong 17 mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam trong việc thực hiện Chương trình nghị sự 2030) với chỉ số nghèo đa chiều của Việt Nam là 0,0197 và đứng thứ 31 trong tổng số 105 nước. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia sớm tham gia thực hiện các công ước quốc tế như công ước CEDAW về Bình đẳng giới, Công ước UNCRCvề Quyền trẻ em, Công ước CRPDvề người khuyết tật. Song hành với việc thực hiện các công ước quốc tế, Việt Nam đã ban hành nhiều bộ luật nhằm đảm bảo các quyền cơ bản của con người, nhất là đối với nhóm yếu thế trong xã hội, như Luật Bình đẳng giới (2007), Luật Người Khuyết tật (2010), Luật Người cao tuổi (2009), Luật Trẻ em (2016)… Các hoạt động liên quan đến đời sống văn hóa, tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện, nâng cao.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy những tồn tại, bất cập và thách thức trong phát triển nông thôn vẫn đang hiện hữu ở mọi mặt của đời sống xã hội. Biểu hiện cụ thể là quá trình phân hóa xã hội nông thôn chưa rõ nét, phân tầng xã hội ở nông thôn đang diễn ra mạnh giữa các vùng nông thôn đồng bằng và miền núi, vùng sâu vùng xa, khoảng cách giữa các tầng lớp ở nông thôn theo chỉ báo nghề nghiệp cũng ngày càng xa nhau, đe dọa sự phát triển xã hội bền vững và bao trùm; đồng thời cũng đặt ra nhiều câu hỏi liên quan đến tính hiệu quả của mô hình quản lý phát triển xã hội Việt Nam hiện nay.

Một số khía cạnh về phân tầng xã hội ở nông thôn Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi

Công cuộc đổi mới ở Việt Nam trong những thập kỷ qua đã kích thích sự chuyển đổi mạnh cơ cấu nghề nghiệp theo hướng công nghiệp, thương mại và dịch vụ, đặc biệt cơ cấu xã hội – nghề nghiệp ở các cộng đồng nông thôn ngày càng đa dạng hóa. Cơ chế đổi mới đã mở ra nhiều cơ hội mới cho mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng phát huy tính năng động xã hội tìm kiếm việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp mới để vươn lên làm giàu, nâng cao thu nhập hướng đến các thang bậc cao hơn trong hệ thống phân tầng xã hội ở nông thôn. Nó cũng tạo ra một môi trường thích hợp để những người có đủ năng lực và phẩm chất cần thiết có thể phấn đấu để trở thành những thành viên của nhóm vượt trội, động lực cho sự phát triển của một ngành, một lĩnh vực hay một địa phương. Sự phân tầng xã hội phát triển có thể dẫn đến các hình thức liên kết xã hội mới, trong đó một tầng lớp trung lưu mới hay tầng lớp khá giả ở nông thôn có thể đóng vai trò của những nhân tố mới trong tiến trình phát triển sắp tới.

Bên cạnh mặt tích cực của quá trình chuyển đổi thời gian qua, cũng cần lưu ý đến những mặt tiêu cực của phân tầng xã hội đối với sự ổn định xã hội nông thôn. Đó là sự phân hóa về các cơ hội kinh tế, tiếp đến là những khác biệt trong tiếp cận các lĩnh vực giáo dục, chăm sóc sức khỏe, điều kiện nhà ở và các dịch vụ cơ bản khác của người dân nông thôn giữa các cộng đồng, địa phương, vùng miền (theo Chu Hữu Quý 1990, Đỗ Nguyên Phương 1995). Sự phát triển lối sống tiêu dùng trong một bộ phận dân cư khá giả trong cộng đồng, đối lập sâu sắc với đại bộ phận nhân dân còn nghèo, đang cố gắng đáp ứng những nhu cầu tối thiểu nhất, có thể đẩy đến những hành động thiếu tính tích cực xã hội của người nghèo trong quá trình phát triển. Hậu quả sẽ còn nặng nề hơn nếu những nhóm xã hội bị nằm ở cực dưới của tháp phân tầng rơi vào diện các gia đình được quan tâm về mặt chính sách. Niềm tin về công bằng xã hội, một khái niệm gần với sự bình đẳng tuyệt đối gắn với mô hình chủ nghĩa xã hội trước đây, cũng sẽ vì thế mà bị xói mòn, có thể dẫn đến những tác động tâm lý tiêu cực đối với nhân dân ở nông thôn.

Công cuộc đổi mới trong suốt 35 năm qua đã mang lại những biến đổi sâu sắc về nhiều mặt, trong đó cấu trúc xã hội và phân tầng xã hội ở nông thôn.

Ngày nay dựa trên một nền kinh tế có quy mô lớn hơn, có tổng khối lượng của cải lớn hơn, với mức sống cao hơn trước, xã hội nông thôn Việt Nam ngày nay đã trở nên đa dạng hơn rất nhiều, xét theo mọi lát cắt. Nhiều giai tầng xã hội tái xuất hiện với những diện mạo mới, tương quan giữa các giai tầng thay đổi. Người ta không thể nói đến một khối nông dân thuần nhất được nữa. Người ta cũng không thể nói về một khối các công nhân viên chức và trí thức nhà nước tương đối thuần nhất về mức sống được nữa. Trong khi hầu hết các giai tầng dân cư đều trở nên khấm khá hơn, sự cách biệt và bất bình đẳng kinh tế cũng tăng lên mạnh mẽ (theo Nguyễn Đức Chiện, 2009; Đỗ Thiên Kính, 2003).

Về đại thể, nhìn qua 35 năm đổi mới và phát triển cho thấy kết cấu xã hội nông thôn Việt Nam ngày nay càng ngày càng trở nên giống với kết cấu xã hội của các nước xung quanh trong khu vực. Thực tiễn này là tất yếu và phù hợp với quy luật trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Từ Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX (2001), Đảng đã thừa nhận rằng: “Trong thời kỳ quá độ, có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, nhưng cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã hội đã thay đổi nhiều cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế – xã hội”(1).

Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu trong nhiều năm qua đã chỉ ra hai xu thế chủ yếu liên quan đến kết cấu xã hội Việt Nam nói chung và xã hội nông thôn nói riêng. Thứ nhất, tổng khối lượng của cải và mức sống chung của cả nước đã tăng lên rất nhanh. Nhìn chung, cứ khoảng 10 năm thu nhập quốc dân lại tăng gấp đôi. Thứ hai, sự chênh lệch về các hình thái của cải giữa các nhóm xã hội cũng ngày càng tăng lên, và tốc độ tăng có tính lũy tiến(2).

Nhiều nhà nghiên cứu về sự phân hóa giàu nghèo, phân tầng mức sống ở Việt Nam khẳng định rằng đang tồn tại khá phổ biến sự phân tầng xã hội theo mức sống (tức là phân hóa giàu- nghèo). Bởi vì hiện tượng phân hóa giàu nghèo diễn ra ở mọi nơi (nông thôn, đô thị và các vùng- miền địa lý khác nhau) và ngày càng doãng ra.

TP.HCM tăng cường ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp.

Một vài nguồn tài liệu chỉ ra rằng chênh lệch về chi tiêu dùng giữa nhóm 20% dân số giàu nhất và nhóm 20% dân số nghèo nhất đã tăng từ 4,6 lần (năm 1993) lên 5,5 lần (năm 1998), và tiếp tục lên tới 6,03 lần vào năm 2002 (Ngân hàng Thế giới và các tác giả khác, 2003: 13). Chênh lệch về chi tiêu này của người dân đô thị gấp 1,8 lần ở nông thôn (năm 1993) đã tăng lên 2,2 lần (năm 1998). Sự tăng lên về khoảng cách giàu nghèo còn được thể hiện qua hệ số Gini về chi tiêu dùng ngày càng tăng dần từ 0,33 năm 1993 lên 0,35 năm 1998, và tiếp tục lên tới 0,37 năm 2002 (Ngân hàng Thế giới và các tác giả khác, 2003: 13). Trong đó, sự bất bình đẳng ở đô thị là lớn hơn và tăng hơn chút ít so với nông thôn. (Tổng cục Thống kê, 2000: 269, 272).

Điều đáng quan tâm là các nghiên cứu này đã đưa ra những nét khái quát về sự phân tầng xã hội, và phân hóa giàu nghèo đang diễn ra rõ rệt trong phạm vi toàn bộ Việt Nam cũng như mỗi vùng nông thôn như sau: Nếu theo chiều từ miền Nam ra miền Bắc, từ đồng bằng lên miền núi thì sự phân hóa ở các tỉnh phía Nam rõ hơn ngoài Bắc, đồng bằng rõ hơn miền núi. Nếu lấy đô thị làm tâm và theo chiều từ đô thị về nông thôn, về tiếp vùng sâu, vùng xa thì sự phân hóa ở đô thị diễn ra mạnh nhất, càng lan tỏa ra các vùng nông thôn xung quanh càng yếu dần, và hầu như còn phẳng lặng ở vùng miền núi (theo Đỗ Thiên Kính, 2003). Điều này phản ánh khác biệt về phân tầng xã hội ở các cộng đồng, vùng miền ở nông thôn Việt Nam hiện nay đang ở những động thái rất khác nhau. Quan trọng hơn, thực tế này đặt ra nhiều câu hỏi đòi hỏi nhà nước cũng như chính quyền mỗi địa phương phải có những tư duy mới để giảm bớt những khác biệt trong quá trình phát triển giữa các cộng đồng hiện nay.

Như vậy, có thể nói, quá trình phân tầng xã hội ở nông thôn nước ta trong 35 năm qua là do Đảng và Nhà nước đã tiến hành công cuộc đổi mới, thực hiện nhiều chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, chương trình xây dựng nông thôn mới, ban hành nhiều chính sách trong phát triển kinh tế, phát triển doanh nghiệp, giáo dục và đào tạo… nhằm tạo cơ hội cho các chủ thể phát huy tính năng động trong phát triển… để nâng cao thu nhập, cải thiện mức sống gia đình, cộng động. Sự phát triển mạnh mẽ của thị trường trong nước và quốc tế với cơ chế mở và bình đẳng cũng tạo điều kiện cho các cá nhân, nhóm xã hội phát huy năng lực trong cuộc sống và được nhận những thành quả lao động xứng đáng công sức con người đóng góp. Về tính năng động của xã hội, và mỗi cá nhân, gia đình cũng đóng vai trò rất quan trọng đối với quá trình phát triển, các chủ thể này đã tích cực, chủ động và năng động trong các hoạt động của đời sống nhằm không ngừng nỗ lực vươn lên trong công việc và cuộc sống. Nhiều gia đình ở nông thôn đã thoát nghèo nhờ những mô hình sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, và không ít những nhóm xã hội mới như doanh nhân, doanh nghiệp ở nông thôn đang hình thành và gia tăng ngày càng đông đảo ở cộng đồng nông thôn, góp lực vào quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy còn hạn chế và bất cập trong quá trình phát triển đất nước ta, đó là tình trạng bất bình đẳng ngày càng tăng giữa các tầng lớp xã hội, sự bất bình đẳng về mức sống giữa các tầng lớp xã hội ngày càng doãng ra theo thời gian. Trong đó, các tầng lớp ở nửa phía trên “Kim tự tháp” có sự cải thiện về mức sống nhiều hơn so với các tầng lớp ở nửa phía dưới. Trái lại, các tầng nhóm ở dưới đáy lại có tỉ lệ hộ gia đình bị giảm sút mức sống là nhiều hơn so với các nhóm xã hội ở đỉnh tháp phân tầng. Bên cạnh đó, sự phân tầng về cuộc sống văn hóa, tinh thần giữa các tầng/nhóm xã hội cũng đã xuất hiện. Tình trạng bất bình đẳng ngày càng tăng giữa các tầng lớp xã hội là sự bất bình đẳng ổn định bền vững đã ăn sâu vào cơ cấu xã hội và là thuộc tính của hệ thống phân tầng xã hội hình kim tự tháp ở Việt Nam. Trong số các mô hình phân tầng xã hội cơ bản trên thế giới (hình Kim tự tháp/hình nón, hình nón cụt, hình thoi/quả trám/con quay, hình trụ và hình “đĩa bay”), thì mô hình Kim tự tháp có sự bất bình đẳng vào loại cao nhất. Như vậy, nhìn vào bản chất của hệ thống cơ cấu xã hội thì sự bất bình đẳng ở nước ta thuộc loại cao. Đây là cách nhìn rất cơ bản, bởi vì đó là cách nhìn về bất bình đẳng từ trong cốt lõi bản chất của hệ thống phân tầng xã hội hình kim tự tháp ở Việt Nam(3).

Kết quả một số nghiên cứu chỉ ra rằng sự di động xã hội giữa các tầng lớp ở Việt Nam diễn ra chủ yếu ở khu vực các tầng lớp xã hội truyền thống, mà không phải ở khu vực các tầng lớp xã hội hiện đại. Điều này có nghĩa rằng, sự hình thành các tầng lớp của xã hội hiện đại diễn ra còn chậm chạp, trong đó sự di động giữa các tầng/nhóm xã hội diễn ra ở khu vực đô thị là năng động hơn so với nông thôn(4).

Khi xem xét nguyên nhân gây ra sự di động xã hội giữa các tầng lớp ở Việt Nam cho thấy rằng nguyên nhân thuộc về nỗ lực chủ quan của các thành viên là chính, còn nguyên nhân thuộc về những yếu tố khách quan chiếm phần nhỏ bé. Trong khi đó, xu hướng chung của các nước công nghiệp trên thế giới là nguyên nhân thuộc về những yếu tố khách quan là chính. Bởi vì, sự thay đổi của cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa sẽ quy định chủ yếu sự biến đổi về cơ cấu xã hội. Chỉ khi nào nguyên nhân tạo nên sự di động xã hội thuộc về những yếu tố khách quan là chính (tức là chủ yếu do sự thay đổi của cơ cấu kinh tế) thì khi ấy sự thay đổi của cơ cấu xã hội mới là căn bản(5). Hay nói như tác giả Nguyễn Đình Tấn (2017), sự phân tầng xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua diễn ra dưới hai hình thức “phân tầng hợp thức” và “không hợp thức”, trong đó phân tầng hợp thức phản ánh sự di động đi lên làm giàu bằng chính năng lực của mỗi cá nhân, ngược lại không hợp thức là việc làm do thủ đoạn trong cuộc sống.

Nhìn chung, xu hướng vận động trong hệ thống phân tầng xã hội của cả nước cũng như ở các vùng nông thôn đang là mở, chứ không đóng, khép kín như trước đây. Điều này là phù hợp với quá trình công nghiệp hóa đang diễn ra trong phạm vi cả nước (các nước công nghiệp trên thế giới cũng như vậy). Tuy nhiên, so với các tầng lớp khác trong xã hội, tầng lớp nông dân đang ở trong trạng thái khép kín nhiều hơn những tầng/nhóm xã hội khác. Tức là, nó thể hiện một điều rằng sự di động ra khỏi tầng lớp nông dân là chậm nhất và ngày càng khó khăn, hoặc là tỉ lệ giảm bớt tầng lớp nông dân ngày càng chậm dần(6).

Có thể khẳng định từ khi Đổi mới đến nay cơ cấu xã hội giai cấp ở nước ta nói chung, nông thôn nói riêng đã biến đổi, ngày càng đa dạng hơn. Giai cấp Công nhân chiếm tỉ trọng khoảng 14% tổng số lao động xã hội. Tuy nhiên số lượng công nhân quốc doanh có xu hướng giảm đi, trong khi công nhân ngoài quốc doanh có xu hướng tăng lên. Mối quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động cũng thay đổi so với trước đây. Nhiều xung đột trong quan hệ lao động nảy sinh không chỉ trong các xí nghiệp nước ngoài và liên doanh mà cả ở các xí nghiệp nhà nước.

Giai cấp Nông dân chiếm khoảng 70% lực lượng lao động xã hội. Giai cấp Nông dân tập thể hầu như không còn. Phần lớn trong số họ đã trở thành các hộ cá thể hoặc tiểu chủ. Tại nhiều nơi đã xuất hiện nhóm chủ trang trại tích tụ khá nhiều ruộng đất và thuê mướn nhiều nhân công (theo Nguyễn Đức Chiện, 2019). Sự phân hóa giàu nghèo trong nội bộ giai cấp nông dân đang dần thể hiện ngày càng rõ nét. Tính bình quân trong cơ cấu xã hội trước đây nay giảm dần.
Tầng lớp trí thức trong những năm gần đây có biến đổi nhưng sự biến đổi đó không đều. Số trí thức hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, giáo dục, y tế, văn hóa, nghệ thuật có tăng nhưng không nhiều. Trong khi đó số trí thức hoạt động trong các lĩnh vực quản lý xã hội và quản lý kinh doanh tăng lên nhanh chóng.

Trong thời kỳ này cũng đã xuất hiện nhóm chủ doanh nghiệp. Tuy nhiên như một số bằng chứng đã chỉ ra rằng số lượng chủ doanh nghiệp vừa và lớn còn tương đối ít, phân bố phân tán, hầu như không có sự phối hợp trong hoạt động kinh tế và chính trị-xã hội, nên họ chưa hình thành một tầng lớp xã hội thực sự (theo Nguyễn Đức Chiện, 2019).
Sự biến đổi cơ cấu giai cấp trên đây gắn liền với sự phân tầng xã hội. Như đã đề cập ở trên, sự phân tầng xã hội đã từng tồn tại ngay từ trước khi Đổi mới, tuy nhiên chưa rõ nét. Qúa trình chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo điều kiện thuận lợi để quá trình phân tầng xã hội diễn ra một cách sâu sắc hơn. Phân tầng xã hội diễn ra ở mọi địa bàn nông thôn, vùng, miền…), trong cả quá trình phát triển, và trong mọi bộ phận hợp thành của cơ cấu xã hội. Phân tầng xã hội theo nghề nghiệp và mức sống hay phân hóa giàu nghèo đang tồn tại khá phổ biến và ngày càng gia tăng ở Việt Nam.

Một số đặc điểm cơ bản liên quan đến phân tầng xã hội ở nông thôn Việt Nam hiện nay cần chú ý là phân tầng xã hội theo nghề nghiệp, mức sống. Sự khác biệt khu vực kinh tế, chính trị, và hành chính. Mức sống cao thường gắn với những ngành nghề làm việc trong khu vực nhà nước (bao gồm kinh tế, hành chính, sự nghiệp, chính trị-xã hội), với khu vực chính quy (doanh nghiệp có đăng ký), với khu vực đầu tư nước ngoài. Chênh lệch giàu nghèo ngày càng gia tăng. Chênh lệch về thu nhập giữa nhóm 20% giàu nhất và 20% nghèo nhất năm 1993-1995 là 6,9 lần, năm 1996 là 7,3 lần, còn năm 1998 là 11,26 lần. Sự khác biệt đô thị-nông thôn và giữa các vùng nông thôn. Sự chênh lệch mức sống giữa đô thị và nông thôn là lớn hơn rất nhiều so với sự chênh lệch này trong nội bộ mỗi khu vực. Chênh lệch giữa thành thị và nông thôn đóng góp phần chủ yếu (khoảng 96%) vào mức độ phân tầng mức sống nói chung trên quy mô toàn quốc. Nếu lấy các đô thị làm tâm và theo chiều từ đô thị về nông thôn, về tiếp các vùng sâu, vùng xa thì sự phân hóa ở đô thị diễn ra mạnh nhất, càng lan tỏa ra các vùng nông thôn xung quanh thì sự phân hóa càng yếu dần, và hầu như phẳng lặng ở miền núi. Sự khác biệt theo vùng. Theo chiều không gian từ Nam ra Bắc, từ đồng bằng lên miền núi thì sự phân hóa ở các tỉnh phía Nam rõ hơn ngoài Bắc, đồng bằng rõ hơn miền núi. Nơi nào kinh tế thị trường phát triển thì mức độ phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo càng diễn ra mạnh mẽ hơn. Khác biệt nhân khẩu và giáo dục. Sự khác biệt mức sống hiện nay giữa các hộ gia đình liên quan đến số nhân khẩu và liên quan đến tỉ suất phụ thuộc (tỉ lệ người ngoài độ tuổi lao động so với người trong độ tuổi lao động). Tỉ lệ phụ thuộc của 20% hộ nghèo nhất cao gấp đôi tỉ lệ này của 20% hộ giàu nhất. Học vấn càng cao thì càng có nhiều khả năng thuộc vào nhóm có mức sống cao. Phúc lợi xã hội chưa đóng được vai trò là công cụ mà nhà nước có thể sử dụng để giảm bớt sự gia tăng phân tầng xã hội. Trợ cấp phúc lợi xã hội còn chiếm một tỉ trọng rất thấp trong tổng thu nhập của dân cư. Trong việc phân phối lại phúc lợi xã hội chi cho xóa đói giảm nghèo chiếm tỉ trọng rất thấp. Phân phối phúc lợi xã hội nhìn chung chưa theo nguyên tắc nhiều phúc lợi xã hội hơn cho nhóm có mức sống thấp hơn (theo Lê Hữu Tầng 2000, Trịnh Duy Luân và Bùi Thế Cường 2001).

Hiện trạng phân tầng xã hội ở nông thôn Việt Nam phản ánh rõ nét đặc điểm của thời kỳ đầu chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mức chênh lệch giữa các tầng lớp chưa lớn, tốc độ tăng chênh lệch chưa cao, xã hội đang mang tính “trung lưu” hay “khá giả” khá rõ rệt (theo nghĩa phân cực hai đầu chưa cao). Tuy nhiên, những khác biệt này đang ngày càng gia tăng theo cái mà các nhà xã hội học gọi là “nguyên lý ưu thế tích hợp”. Tức là, những người đã ở một vị trí có ưu thế sẽ có nhiều khả năng hơn những người khác để vượt lên trên bậc thang phân tầng xã hội (theo Lê Hữu Tầng 2000).

Nuôi cá biển trong ô lồng của người dân huyện Vân Đồn (Quảng Ninh). Ảnh: M.T

Bàn luận và gợi mở hướng chính sách nhằm giảm thiểu tác hại của phân tầng xã hội ở nông thôn trong bối cảnh Việt Nam chuyển đổi và hội nhập

Phân tầng xã hội là tất yếu trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Quá trình phân hóa, phân tầng xã hội đang diễn ra có tác động kích thích mạnh mẽ sự chuyển đổi kinh tế, làm tăng thêm tính tích cực lao động, cũng như tính năng động nghề nghiệp. Tài năng, lợi ích cá nhân cũng như cơ may thị trường nhưng không hòa tan cá nhân, cào bằng những sự khác biệt cá nhân.

Trong khi chúng ta thừa nhận tính tất yếu của phân tầng xã hội trong nền kinh tế thị trường và những tác động tích cực của nó trong sự nghiệp Đổi Mới hiện nay, cũng cần đánh giá đúng mức những hệ quả xã hội tiêu cực của nó. Đặc biệt là trong bối cảnh của một đất nước vừa trải qua hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc liền kề nhau, với một số lượng đông đảo các gia đình chính sách thiếu những tiền đề cần thiết để có thể cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế thị trường. Đồng thời cũng phải lưu ý đến bối cảnh của một xã hội mới bắt đầu tham gia vào nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, còn thiếu những kinh nghiệm và kiến thức cần thiết để quản lý xã hội theo Hiến pháp và pháp luật, còn để tồn tại những kẽ hở cho một số nhóm người làm giàu bất chính, không trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh.

Chính vì vậy, việc nghiên cứu và nhận thức một cách rõ ràng về phân tầng xã hội có ý nghĩa lớn lao không chỉ về mặt khoa học mà cả về mặt thực tiễn. Nó cho phép thấy rõ được sự tồn tại và quan hệ tương tác giữa các nhóm xã hội khác nhau. Nếu sự phân tầng xã hội là quá lớn, khoảng cách giữa các nhóm xã hội là quá chênh lệch, nó có thể dẫn đến tình trạng bất ổn định và xung đột xã hội. Ngược lại, cũng cần thấy được sự phân hóa về năng lực, về tầm nhìn, về cách thức giải quyết các vấn đề kinh tế và đời sống. Do đó phân tầng xã hội là tất yếu trong quá trình phát triển. Khi đó Đảng và Nhà nước mới đưa ra những chính sách phù hợp với từng nhóm xã hội, thúc đẩy động lực của sự phát triển.

Trên cơ sở các bàn luận trên, nghiên cứu này đưa ra một số gợi mở hướng chính sách mới nhằm đẩy mạnh phát triển nông thôn, giảm thiểu phân hóa, khoảng cách giữa các nhóm, cộng đồng, vùng miền nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa như sau:

Một là, nhà nước tiếp tục đổi mới tư duy và hoàn thiện hơn thể chế pháp luật trong bối cảnh mới khủng hoảng kinh tế, thiên tai, dịch bệnh diễn biến khó lường. Bên cạnh hoàn thiện môi trường pháp lý và thể chế, làm trong sạch bộ máy nhà nước nhằm ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực, chính trị, và hành chính, sự câu kết quyền lực để mưu lợi cá nhân. Đặc biệt bên cạnh các chính sách kinh tế, cần quan tâm hơn nữa đến các chính sách xã hội đối với khu vực nông thôn. Kể từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI, Đảng ta đã tách cụm từ vấn đề chính sách xã hội ra khỏi cụm từ chung chính sách kinh tế – xã hội. Chính sách xã hội là một bộ phận của chiến lược vĩ mô của nhà nước, nó nhằm bổ sung những thiếu hụt mà chính sách kinh tế đôi khi không bao quát hết, hoặc thậm chí ở một vài khía cạnh nào đó có thể dẫn đến hậu quả tiêu cực về mặt xã hội, làm triệt tiêu động lực của sự phát triển. Mục tiêu của chính sách xã hội là cơ sở nền tảng rất quan trọng để phát huy nhân tố con người, trong những thập kỷ qua Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm và thực hiện nhiều chính sách xã hội nhằm giảm thiểu khoảng cách phát triển, phân hóa xã hội giữa các vùng, nhóm xã hội. Song hệ các chính sách xã hội cần phù hợp hơn là cơ sở để đảm bảo được sự ổn định xã hội, tạo điều kiện cho sự tăng trưởng kinh tế. Tiếp tục quan tâm điều chỉnh cơ cấu của phân phối phúc lợi xã hội sao cho những nhóm có mức sống thấp hơn được nhận nhiều hơn phúc lợi xã hội. Để làm được điều này, trong phân phối phúc lợi xã hội cần tăng tỉ trọng của các khoản chi cho xóa đói giảm nghèo, chi cho các nhóm xã hội dễ bị tổn thương (người già cô đơn, người khuyết tật, các hộ gia đình quá nghèo do ốm đau, thiên tai…), và chi dịch vụ xã hội cơ bản của người dân ở cộng đồng nông thôn.

Hai là, phát triển và lành mạnh hóa các thị trường (hàng hóa, lao động) ở nông thôn, hướng đến phát triển nền kinh tế hàng hóa có thương hiệu và hình thành gia tăng nhóm hộ gia đình sản xuất, kinh doanh quy mô lớn, gia tăng nhóm doanh nghiệp sản xuất, chế biến nông sản phẩm, đầu tư và phát huy tối đa các nguồn lực cho sự phát triển nông thôn. Phát triển mạnh nền kinh tế thị trường và kinh tế hàng hóa ở nông thôn là hướng giải pháp rất quan trọng để tạo cơ hội bình đẳng cho tất cả các chủ thể doanh nghiệp, tầng lớp nhân dân trong sản xuất, kinh doanh, cũng như trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội; môi trường để khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp, làm ra những sản phẩm hàng hóa có giá trị, thương hiệu có khả năng cạnh tranh; bên cạnh phát huy năng lực thị trường, doanh nghiệp cần mở rộng và phát huy vai trò trách nhiệm của các chủ thể, doanh nghiệp trong tham gia vào xã hội nông thôn, đẩy mạnh công cuộc giảm nghèo bằng cách tập trung xóa đói nghèo ở nông thôn; tăng thêm phần phân phối qua phúc lợi xã hội trong hệ thống tái phân phối xã hội. Mở rộng phạm vi và năng lực cạnh tranh của các ngành, các đơn vị sản xuất, kinh doanh để hạn chế tình trạng độc quyền trong sản xuất, kinh doanh ở nông thôn.

Ba là, phát huy vai trò của các chủ thể xã hội, cụ thể là gia đình, cộng đồng, các loại hình tổ chức xã hội, hiệp hội ở mỗi cộng đồng địa phương trong phát triển kinh tế và phát triển xã hội ở cộng đồng nông thôn. Các chủ thể xã hội có tiềm năng phát triển cần không bị động, ỷ lại mà cần nỗ lực không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ, tư duy, sáng tạo, chủ động và phát huy hơn tính năng động trong các hoạt động của đời sống xã hội để không ngừng nỗ lực vươn lên trong các hoạt động sản xuất kinh, doanh của mỗi gia đình và nhóm xã hội trong cộng đồng, đảm bảo vừa phát triển kinh tế, vừa cải thiện nâng cao sự chia sẻ và tình cố kết trong cộng đồng nông thôn trong bối cảnh xã hội nông thôn chuyển đổi, hội nhập và Cách mạng 4.0.

Có thể nói, theo hướng giải pháp này sẽ góp phần thực hiện tốt mối quan hệ giữa nhà nước và cộng đồng, Nhà nước và thị trường, Nhà nước và cộng đồng địa phương trong quá trình phát triển, giảm thiểu hệ quả tiêu cực của phân tầng xã hội và khoảng cách xã hội trong quá trình phát triển, giúp nông thôn ổn định trật tự, an toàn phát triển bao trùm và bền vững cộng đồng. Đặc biệt, những giải pháp đó sẽ góp phần tạo lập cơ sở xã hội và thể chế để thực hiện đồng thời tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở các vùng nông thôn theo đúng tinh thần của Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIII (2021).

PGS. TS Nguyễn Đức Chiện – Viện Xã hội học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
Ths. Nguyễn Khải Hoàn

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001: 85
(2) TL đã dẫn trên
(3) Đỗ Thiên Kính. 2010. Một số vấn đề cơ bản về biến đổi cơ cấu xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2011- 2020. Báo cáo Đề tài cấp Bộ. Thư viện Viện Xã hội học.
(4) Đỗ Thiên Kính. 2010. Một số vấn đề cơ bản về biến đổi cơ cấu xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2011- 2020.
(5) TL đã dẫn trên
(6) TL đã dẫn trên
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đỗ Nguyên Phương 1995. Phân tầng xã hội và phân hóa giàu nghèo và công bằng xã hội ở nước ta hiện nay. Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 2/1995, trang 12-18.
Đỗ Thiên Kính 2002. Tìm hiểu phân tầng xã hội trong lịch sử và áp dụng vào nghiên cứu phân hóa giàu nghèo ở nước ta hiện nay. Tạp chí Xã hội học số 1 (77). Trang 51-58.
Đỗ Thiên Kính. 2010. Một số vấn đề cơ bản về biến đổi cơ cấu xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2011- 2020. Báo cáo Đề tài cấp Bộ. Thư viện Viện Xã hội học.
Chu Hữu Quý 1990. Về sự phân tầng xã hội ở các vùng nông thôn nước ta hiện nay. Tạp chí Xã hội học, số 4 (32), trang 43-45.
Gidden A. 1992. Phân tầng xã hội và cấu trúc xã hội. Tạp chí Nghiên cứu xã hội học (Nga) số 11/1992, Đinh Phương Thảo dịch.
Lê Hữu Tầng 2000. Về cơ cấu giai cấp, phân tầng xã hội (Báo cáo chuyên đề phục vụ việc chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội 9 của Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia).
Nguyễn Đức Chiện. 2009. Công bằng xã hội với các cơ hội phát triển của các nhóm dân cư ở một xã đồng bằng sông Hồng hiện nay. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Số 18 (tháng 9/2009).
Nguyễn Đức Chiện. 2018. Tổ chức phi lợi nhuận tham gia trợ giúp phát triển cộng đồng nông thôn. Tạp chí Xã hội học. Số 4.
Nguyễn Đức Chiện. 2018.Tiếp cận lý thuyết về phát triển nông thôn: Từ góc nhìn Kinh tế học phát triển và Xã hội học phát triển. Tạp chí Xã hội học. Số 2.
Nguyễn Đức Chiện (đồng tác giả). 2020.Thách thức phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam thời kỳ chuyển đổi. Tạp chí Nghiên cứu Ấn Độ và Châu Á. Số 4.
Nguyễn Đức Chiện. 2019. Nhận diện nhóm nông dân mới trong bối cảnh hội nhập và cách mạng công nghiệp 4.0. Tạp chí Xã hội học, Số 4.
Nguyễn Đức Chiện (đồng tác giả). 2019. Mạng lưới xã hội trong sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình người Ê -Đê. Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới. Số 3.
Nguyễn Đức Chiện. 2019. Biến đổi khuôn mẫu sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình nông thôn thời kỳ Đổi mới. Tạp chí Nghiên cứu con người. Số 2.
Nguyễn Đức Chiện. 2020. Chiều cạnh xã hội trong tuyển dụng nhân lực tại doanh nghiệp nhỏ và vừa: Nhìn từ khảo sát định tính ở một tỉnh đồng bằng sông Hồng. Tạp chí Xã hội học. Số 1.
Nguyễn Đình Tấn 1998. Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội. Nhà xuất bản chính trị quốc gia. Hà Nội.
Roberson I. 1987. Sociology, Worth publishers, New York. tái bản lần thứ 3, chương 10: Phân tầng xã hội, bản dịch tiếng Việt. Phạm Văn Bích dịch.
Tương Lai 1995. Khảo sát xã hội học về phân tầng xã hội. Nhà xuất bản khoa học xã hội. Hà Nội.
Trịnh Duy Luân và Bùi Thế Cường 2001. Về phân tầng xã hội và công bằng xã hội ở nước ta hiện nay. Tạp chí Xã hội học số 2 (74). Trang 3-11.
Tổng cục Thống kê 2000. Điều tra mức sống dân cư Việt Nam 1997-1998, Hà Nội.
Lê Hữu Tầng 2000. Về cơ cấu giai cấp, phân tầng xã hội (Báo cáo chuyên đề phục vụ việc chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội 9 của Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia).
Lưu Hồng Minh 2001. Thực trạng phân tầng xã hội theo mức sống ở nông thôn đồng bằng sông Hồng-dự báo và những kiến nghị. Luận án tiến sĩ xã hội học.
Nguyễn Đình Tấn 1998. Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội. Nhà xuất bản chính trị quốc gia. Hà Nội.
Lênin 1977. Toàn tập, tập 39. Nxb Sự thật
Weber. M. 1947. The Theory of Social and Economic Organization. https://www.amazon.com/Theory-Social-Economic-Organization/dp/1614272573.
Đảng Cộng sản Việt Nam. 2001. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX. Nxb Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam. 2021. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII. Nxb Chính trị quốc gia.
Chương trình 135, Nghị quyết 30a của Chính phủ về hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo nhất trong cả nước v.v..
Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Tổng quan về Việt Nam, cập nhật tháng 10/2020
Theo báo cáo của Ban Cán sự Đảng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội tại công văn số 700-BC/BCSĐ ngày 28/5/2019.

Chủ đề:
Bạn đang xem danh mục: Bàn tròn
Tin cập nhật
Sự kiện
Tam nông
  • Tăng thu nhập từ nghề ươm cây giống

    Từ chỗ mạnh ai nấy làm, ông Hồ Văn Tiềm đã vận động thành lập Tổ hợp tác Sản xuất cây giống. Tổ hợp tác đã giúp đỡ hàng chục hộ nông dân tăng thu nhập từ nghề ươm cây giống. Hiệu quả từ mô hình tổ hợp tác Năm 2007, gia đình ông Hồ […]

  • Nông nghiệp, nông thôn chỗ dựa cho dòng người hồi hương giữa đại dịch

    Những dòng người lao động từ các thành phố, khu công nghiệp về quê, chỗ dựa giúp người lao động có thể ổn định cuộc sống và tâm lý vượt qua đại dịch chính là sản xuất nông nghiệp. Nông nghiệp phát huy vai trò trụ đỡ Đại dịch Covid-19 ngành nông nghiệp lại được […]

  • Thành tỷ phú từ “thú vui” nuôi chim bồ câu

    Ban đầu chỉ với vài cặp bồ câu lai Pháp về cho vợ nuôi làm thú vui và để tẩm bổ, không ngờ từ thú vui ấy đã giúp cho gia đình anh Trần Công Chiến (xã Minh Long, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước) trở thành tỷ phú từ con vật nuôi này. Từ […]