02:00 - 02/01/2017

Hà Tĩnh: Ưu tiên hàng đầu cho nước sạch nông thôn

Là địa phương thường xuyên hứng chịu thiên tai khắc nghiệt, lũ lụt, hạn hán bất thường, những vùng ô nhiễm xăng dầu, hóa chất trong chiến tranh… nên người dân Hà Tĩnh có nhu cầu rất cao về nước sạch sinh hoạt, và đây cũng là vấn đề được các cấp, các ngành trong tỉnh đặc biệt quan tâm.

Vượt lên những khó khăn

Là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, Hà Tĩnh có diện tích tự nhiên 5.997 km2, gồm 13 đơn vị hành chính (10 huyện, 1 thành phố và 2 thị xã). Toàn tỉnh có 262 xã, phường, thị trấn với tổng dân số hơn 1,2 triệu người, trong đó dân số sống ở nông thôn là 1.158.000 người (chiếm 92%). Trong những năm qua, thực hiện công cuộc xây dựng nông thôn mới, Hà Tĩnh đã có những chuyển biến tích cực, với mô hình kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp-xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp tạo tiền đề cho phát triển nền kinh tế nông thôn. Cơ sở hạ tầng từng bước được đầu tư xây dựng, trong đó lĩnh vực cấp nước sạch nông thôn được các cấp, các ngành, các địa phương trong tỉnh quan tâm đặc biệt.

Tham quan công trình cung cấp nước sạch. Ảnh tư liệu

Vốn là tỉnh có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão gió, hạn hán, lũ lụt, xâm nhập mặn… làm thiếu hụt nguồn nước, gây hư hỏng công trình hồ chứa. Mặt khác dân cư nông thôn sinh sống phân tán, hiệu suất đầu tư xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt cao, mức đóng góp đối ứng của người dân lớn, công tác quản lý, khai thác gặp nhiều khó khăn trong khi nhu cầu về nước sinh hoạt của người dân ngày càng tăng cao. Trước tình hình đó, tỉnh Hà Tĩnh quyết tâm đẩy mạnh chương trình nước sạch nông thôn, xác định là khâu trọng yếu cần giải quyết trước tiên. Đến nay toàn tỉnh Hà Tĩnh có 40 công trình cấp nước nông thôn tập trung với công suất thiết kế 23.000m3/ngày đêm và 276.300 công trình cấp nước nhỏ lẻ hộ gia đình (giếng khoan, giếng đào, lu/bể chứa nước mưa…). UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1644/ QĐ – UBND ngày 7.5.2015 về việc giao công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn tập trung cho các địa phương, đơn vị quản lý. Theo đó có 3 công trình bàn giao cho trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh quản lý, 37 công trình giao cho UBND xã thành lập các HTX quản lý, trong đó 25 công trình phát huy hiệu quả tốt, 12 công trình phát huy hiệu quả trung bình.

Định kỳ hàng năm, các ngành chuyên môn lập kế hoạch và triển khai thực hiện lấy mẫu xét nghiệm, phân tích đánh giá chất lượng nước tại các công trình cấp nước tập trung, công trình cấp nước nhỏ lẻ hộ gia đình để kịp thời chấn chỉnh và cảnh báo người dân trong việc sử dụng nước sạch và cấp nước an toàn. Tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư và xây dựng, bảo quản và trữ nước an toàn cho hộ gia đình.

Công tác thông tin – giáo dục – truyền thông cũng được các địa phương quan tâm đẩy mạnh, thường xuyên, liên tục nên nhận thức của cán bộ các cấp và nhân dân trong việc sử dụng nước sạch và vệ sinh môi trường được nâng lên. Hàng năm các đoàn thể Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên đã phối hợp với các sở, ngành trong tỉnh xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện các hoạt động truyền thông, tuyên truyền vận động cán bộ, hội viên, đoàn viên và nhân dân nâng cao nhận thức về nước sạch, thực hành các hành vi vệ sinh cá nhân, tổ chức xây dựng mô hình điểm để nhân rộng.

Một số kinh nghiệm hay của Hà Tĩnh

Về tổ chức thực hiện: Cần phải có sự phối, kết hợp chặt chẽ, thống nhất giữa các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, UBND các huyện, thành phố, thị xã và người dân vùng hưởng lợi; sự quan tâm chỉ đạo quyết liệt, sâu sát, cụ thể của cấp ủy, chính quyền địa phương từ cấp huyện đến cấp xã; xây dựng được các phong trào thi đua giữa các địa phương trong công tác nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn gắn với phong trào xây dựng nông thôn mới.

Về công tác đầu tư xây dựng công trình: Trước hết phải thực hiện theo quy hoạch được UBND tỉnh phê duyệt; phải xác định được đơn vị quản lý công trình sau đầu tư; tổ chức điều tra, đánh giá sự cần thiết của người dân; điều tra về khả năng nguồn nước có thể cung cấp, tình hình điều kiện thực tế nơi xây dựng công trình và khả năng của người dân khi huy động đóng góp tài chính, từ đó đề xuất chính sách đầu tư thích hợp.

Đầu tư xây dựng công trình phải có trọng tâm, trọng điểm (tránh đầu tư dàn trải); ưu tiên cho những vùng người dân thực sự cần thiết, có nhu cầu, đủ khả năng đóng góp tài chính và đảm bảo quản lý, vận hành và bảo vệ công trình sau đầu tư. Đầu tư xây dựng các công trình cấp nước tập trung phải đồng bộ, có tính hiện đại hóa và phát triển lâu dài; ưu tiên những vùng đặc biệt khó khăn về nước sinh hoạt. Đồng thời ưu tiên nguồn vốn đầu tư nâng cấp, sửa chữa, mở rộng các công trình đã xây dựng nhằm phát huy tối đa năng lực, công suất thiết kế của công trình, đảm bảo cấp nước sinh hoạt ổn định.

Về công tác thông tin – giáo dục truyền thông: Phải được triển khai thường xuyên, liên tục và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp các ngành, đặc biệt là Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên. Xây dựng chương trình phải phù hợp với thực tế, ngắn gọn, dễ hiểu, chuyển từ truyền thông nâng cao nhận thức sang truyền thông thay đổi hành vi. Về công tác huy động nguồn lực: Tăng cường vận động, kêu gọi huy động xã hội hóa các nguồn lực và có chính sách phù hợp khuyến khích, ưu đãi, thu hút các tổ chức, cá nhân trong và ngoài địa phương đầu tư thực hiện chương trình.

Các giải pháp để duy trì và phát triển bền vững

Để duy trì kết quả nói trên, Hà Tĩnh đã nêu ra các giải pháp phát triển bền vững:

Thứ nhất, UBND tỉnh chỉ đạo các cấp, các ngành rà soát lại các văn bản pháp quy, các chính sách của Nhà nước để điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế và điều kiện sống của các vùng nông thôn.

Thứ hai, ưu tiên nguồn vốn đầu tư, nâng cấp, sửa chữa, mở rộng các công trình đã xây dựng, nhằm phát huy tối đa năng lực, công suất thiết kế của công trình, đảm bảo cấp nước sinh hoạt ổn định cho người dân; đầu tư xây dựng mới các công trình cấp nước tập trung cho nhân dân vùng đặc biệt khó khăn về nguồn nước, vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, gắn với các chính sách xã hội để từng bước giải quyết nước sinh hoạt cho dân và phục vụ phát triển kinh tế, xã hội. Góp phần thực hiện thành công Chương trình mục tiêu Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường.

Thứ ba, lựa chọn mô hình quản lý, vận hành khai thác sau đầu tư, phù hợp với tính chất, quy mô của từng công trình đảm bảo khai thác có hiệu quả các công trình đã xây dựng. Xã hội hóa công tác đầu tư, quản lý, khai thác các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn, ban hành chính sách về thủ tục cấp phép, về đất đai, về phí, lệ phí, tín dụng, bảo hiểm… nhằm khuyến khích tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển cấp nước sinh hoạt nông thôn.

Thứ tư, tăng cường công tác thông tin –giáo dục – truyền thông, phổ biến các quy định pháp luật về tài nguyên nước cho cán bộ và nhân dân; tổ chức tập huấn, nâng cao nhận thức về sử dụng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn cho người dân. Sắp xếp lộ trình, đào tạo phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu, mức độ phân cấp quản lý cho các cấp; bố trí nhân lực hợp lý để đảm bảo sự phục vụ lâu dài theo hướng đào tạo nguồn nhân lực tại cơ sở.

Và thứ năm, áp dụng khoa học, công nghệ mới, nghiên cứu và phát triển theo hướng đa dạng hóa các loại hình công nghệ khai thác, sử dụng nguồn nước hợp lý và nâng cao chất lượng nước phù hợp với điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội của từng vùng, đảm bảo tính bền vững, lâu dài.

Tính đến hết năm 2015, Hà Tĩnh có 1.555.500 người dân nông thôn được sử dung nước hợp vệ sinh (chiếm 89,92%), trong đó có 39,2% người dân được sử dụng nước đạt quy chuẩn quốc gia (QCVN 02: 2009 BYT), trong đó công trình tập trung cấp nước thường xuyên cho 193.000 người (chiếm 16,7%), các công trình cấp nước nhỏ lẻ cho 962.500 người (chiếm 83,3%).

Nguồn: Sở NN&PTNT tỉnh Hà Tĩnh.

Ngô Việt Dũng

Chủ đề:
Bạn đang xem danh mục: Xã hộiDanh mục
Tin cập nhật
Sự kiện
Tam nông
  • Tăng thu nhập từ nghề ươm cây giống

    Từ chỗ mạnh ai nấy làm, ông Hồ Văn Tiềm đã vận động thành lập Tổ hợp tác Sản xuất cây giống. Tổ hợp tác đã giúp đỡ hàng chục hộ nông dân tăng thu nhập từ nghề ươm cây giống. Hiệu quả từ mô hình tổ hợp tác Năm 2007, gia đình ông Hồ […]

  • Nông nghiệp, nông thôn chỗ dựa cho dòng người hồi hương giữa đại dịch

    Những dòng người lao động từ các thành phố, khu công nghiệp về quê, chỗ dựa giúp người lao động có thể ổn định cuộc sống và tâm lý vượt qua đại dịch chính là sản xuất nông nghiệp. Nông nghiệp phát huy vai trò trụ đỡ Đại dịch Covid-19 ngành nông nghiệp lại được […]

  • Thành tỷ phú từ “thú vui” nuôi chim bồ câu

    Ban đầu chỉ với vài cặp bồ câu lai Pháp về cho vợ nuôi làm thú vui và để tẩm bổ, không ngờ từ thú vui ấy đã giúp cho gia đình anh Trần Công Chiến (xã Minh Long, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước) trở thành tỷ phú từ con vật nuôi này. Từ […]