• Trang chủ
  • Bàn tròn
  • Góp ý xây dựng sửa đổi Luật Đất đai 2013: Cần làm rõ một số điểm về quy định thu hồi đất “vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội”
07:05 - 29/07/2021

Góp ý xây dựng sửa đổi Luật Đất đai 2013: Cần làm rõ một số điểm về quy định thu hồi đất “vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội”

Lời Toà soạn: Để góp phần cùng Trung ương Hội Nông dân Việt Nam và các cơ quan nhà nước đang tiến hành tổng kết việc thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TW khoá XI, ngày 31/10/2012 của Đảng, Tạp chí Nông Thôn Mới số này giới thiệu bài viết nghiên cứu của 2 tác giả Ths. Trần Vang Phủ và Ths.Trần Thuỵ Quốc Thái (Khoa Luật, Đại học Cần Thơ). Bài viết này phân tích những điểm chưa hợp lý trong việc xác định căn cứ và phạm vi áp dụng chế định Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng theo quy định hiện hành. Vì lý do kỹ thuật trình bày, tít chính do Toà soạn đặt lại.

Sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Đồng Tháp. Ảnh: tư liệu

Đặt vấn đề

So với Luật Đất đai năm 2003 thì Luật Đất đai năm 2013 được ghi nhận là một văn bản điều chỉnh một cách chi tiết và bao quát về vấn đề thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Bên cạnh trường hợp thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, Luật Đất đai năm 2013 đã quy định các dự án do nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng có phần thu hẹp hơn so với Luật Đất đai năm 2003. Theo đó, Luật Đất đai năm 2003 là thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế và quy định về các dự án cần sử dụng đất để phát triển kinh tế sẽ được Nhà nước thu hồi, đặc biệt là dự án có 100% vốn đầu tư nước ngoài , nay Luật Đất đai năm 2013 đã bỏ trường hợp này và có quy định cụ thể về các trường hợp cơ quan có thẩm quyền được phép thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội tại Điều 62, điều luật này được kỳ vọng sẽ hạn chế tình trạng không rõ ràng trong cách xác định trường hợp nào sử dụng đất vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội thì Nhà nước thu hồi và trường hợp nào chủ đầu tư phải tự thoả thuận để nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất hoặc nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất từ người đang sử dụng đất. Tuy nhiên, Luật hiện hành lại chưa xác định rõ nội hàm của nhiều thuật ngữ để xác định phạm vi áp dụng cơ chế chuyển dịch đất đai bắt buộc, cũng như diện tích và mức vốn đầu tư từ bao nhiêu thì Nhà nước sẽ thực hiện việc thu hồi đất, trường hợp nào áp dụng cơ chế chuyển dịch đất đai tự nguyện. Từ đó, trên thực tế trong thời gian qua, một số địa phương đã áp dụng những quy định này theo hướng khá mở để thu hồi đất cho những dự án thuần kinh tế…, chính vì vậy dẫn đến sự không đồng thuận của người bị thu hồi đất tăng cao, làm phát sinh nhiều khiếu nại, khiếu kiện…

Trường hợp Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Theo quy định tại Điều 62 Luật Đất đai năm 2013, nhà nước sẽ thu hồi đất để phục vụ các dự án sau vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Một là, để thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư mà phải thu hồi đất.

Theo quy định tại Điều 30 Luật Đầu tư năm 2014, những dự án sau thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội:

Trừ những dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội theo pháp luật về đầu tư công, Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án đầu tư sau đây:

(i) Dự án ảnh hưởng lớn đến môi trường hoặc tiềm ẩn khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, bao gồm:

a) Nhà máy điện hạt nhân;

b) Chuyển mục đích sử dụng đất vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học từ 50ha trở lên; rừng phòng hộ đầu nguồn từ 50ha trở lên; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay, chắn sóng, lấn biển, bảo vệ môi trường từ 500ha trở lên; rừng sản xuất từ 1.000ha trở lên;

(ii) Sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa nước từ hai vụ trở lên với quy mô từ 500ha trở lên;

(iii) Di dân tái định cư từ 20.000 người trở lên ở miền núi, từ 50.000 người trở lên ở các vùng khác;

(iv) Dự án có yêu cầu phải áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt cần được Quốc hội quyết định.

Hai là, để thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư mà phải thu hồi đất, bao gồm:

i) Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA);

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 3 Luật Quy hoạch đô thị năm 2008, “Khu đô thị mới là một khu vực trong đô thị, được đầu tư xây dựng mới đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và nhà ở” và “Dự án đầu tư xây dựng Khu đô thị mới là dự án đầu tư xây dựng mới một khu đô thị trên khu đất được chuyển đổi từ các loại đất khác thành đất xây dựng đô thị” .

ii) Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương; trụ sở của tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; công trình di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp quốc gia;

iii) Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc; hệ thống dẫn, chứa xăng dầu, khí đốt; kho dự trữ quốc gia; công trình thu gom, xử lý chất thải;

Ba là, để thực hiện các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà phải thu hồi đất bao gồm:

i) Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; công trình di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp địa phương;

ii) Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của địa phương gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc, chiếu sáng đô thị; công trình thu gom, xử lý chất thải;

iii) Dự án xây dựng công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư; dự án tái định cư, nhà ở cho sinh viên, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ; xây dựng công trình của cơ sở tôn giáo; khu văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí phục vụ công cộng; chợ; nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng;

Ảnh minh họa

Một điểm cần lưu ý ở đây là, các văn bản quy phạm pháp luật ở Trung ương chưa có quy định rõ thế nào là mục đích công cộng và khu vui chơi được xây dựng với nguồn vốn và mục đích như thế nào sẽ được xem là phục vụ công cộng để được nhà nước thu hồi đất. Bên cạnh đó, liên quan đến dự án “chợ”, pháp luật hiện hành chưa được xác định nguồn vốn đầu tư, quy mô ra sao thì “chợ” này được nhà nước thu hồi và “chợ” thuộc quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2000 hoặc 1/500 của các dự án phát triển nhà ở thì nhà nước sẽ thu hồi hay chủ đầu tư dự án phải thỏa thuận nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất vẫn chưa được quy định.

iv) Dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới; chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn; cụm công nghiệp; khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung; dự án phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng;

Theo quy định tại Khoản 9 Điều 2 Nghị định số 11/2013/NĐ-CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ về quản lý đầu tư phát triển đô thị quy định Dự án đầu tư xây dựng khu đô thị bao gồm các loại sau đây:

a) Dự án đầu tư xây dựng khu đô thị mới là dự án đầu tư xây dựng mới một khu đô thị trên khu đất được chuyển đổi từ các loại đất khác thành đất xây dựng đô thị;

b) Dự án tái thiết khu đô thị là dự án xây dựng mới các công trình kiến trúc và hạ tầng kỹ thuật trên nền các công trình hiện trạng đã được phá dỡ theo quy hoạch đô thị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

c) Dự án cải tạo chỉnh trang khu đô thị là dự án cải tạo, nâng cấp mặt ngoài hoặc kết cấu các công trình trong khu vực đô thị hiện hữu nhưng không làm thay đổi quá 10% các chỉ tiêu sử dụng đất của khu vực;
d) Dự án bảo tồn, tôn tạo khu đô thị là các dự án nhằm bảo tồn tôn tạo các giá trị văn hóa, lịch sử, kiến trúc của các công trình, cảnh quan trong khu vực di sản văn hóa của đô thị;

đ) Dự án đầu tư xây dựng khu đô thị hỗn hợp là các dự án đầu tư xây dựng khu đô thị trong đó có thể bao gồm các công trình xây dựng mới, công trình cải tạo chỉnh trang, tái thiết và bảo tồn, tôn tạo.

Các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành hiện chưa có định nghĩa chính thức thế nào là “Khu dân cư nông thôn mới” và thế nào là “chỉnh trang khu dân cư nông thôn”. Hiện nay, khái niệm được sử dụng là “Điểm dân cư nông thôn”, theo đó, “Điểm dân cư nông thôn là Nơi cư trú tập trung của các hộ gia đình gắn kết với nhau trong sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã hội khác trong phạm vi một khu vực nhất định, được hình thành do điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế – xã hội, văn hóa và các yếu tố khác.

v) Dự án khai thác khoáng sản được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, trừ trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn, khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ và khai thác tận thu khoáng sản.

Như vậy, theo quy định hiện nay việc thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội được chia thành ba cấp quyết định là Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh. Mặc dù Luật Đất đai năm 2013 được ban hành theo hướng thu hẹp lại phạm vi nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế như quy định của Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, nhằm hướng đến việc thu hồi hồi đất theo quy hoạch và sử dụng thuật ngữ “kinh tế – xã hội” thay cho từ “kinh tế” trước đây. Việc chuyển từ thuật ngữ “thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế” sang thuật ngữ “thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội” mang ý nghĩa chính trị to lớn, nó thể hiện được chủ trương phát triển của Đảng và Nhà nước ta là các dự án mặc dù có yếu tố kinh tế, tức là phải đảm bảo nhà đầu tư có lợi, nhằm thu hút đầu tư, phát triển kinh tế đất nước, nhưng những dự án đó phải gắn liền và mang đến những giá trị cho xã hội nói chung, đóng góp cho lợi ích chung của quốc gia, công cộng, chứ không đơn thuần chỉ phục vụ lợi ích của nhà đầu tư. Với sự thay đổi tư duy, định hướng như vậy sẽ giúp cân bằng lợi ích giữa nhà nước, nhà đầu tư và người dân, không đặt nặng mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà quên đi tăng trưởng xã hội, phúc lợi xã hội, đảm bảo phát triển kinh tế phải phục vụ được lợi ích chung cho toàn xã hội.

Bên cạnh đó, việc thay đổi thuật ngữ, nội hàm này còn giúp Việt Nam đáp ứng được đầy đủ các tiêu chỉ để được công nhận là nước có nền kinh tế thị trường đầy đủ theo quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu , việc công nhận này có ý nghĩa rất lớn khi Việt Nam đối mặt với các vụ kiện chống bán phá giá hay các rào cản thương mại phi thuế quan khác.

Mặc dù vậy, để đảm bảo sự phát triển bền vững, hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế với an sinh xã hội, bảo vệ môi trường và đặc biệt là hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và nhà đầu tư, việc làm quan trọng là nên có sự xác định rõ ranh giới các dự án phát triển kinh tế, thu hút đầu tư trong trường hợp nào Nhà nước sẽ thu hồi, trong trường hợp nào chủ đầu tư phải thỏa thuận để nhận chuyển nhượng, thuê lại đất hoặc nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất với người đang sử dụng đất.

Ảnh minh họa

Những bất cập trong việc xác định căn cứ và phạm vi áp dụng chế định Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Bên cạnh những điểm tiến bộ so với Luật Đất đai năm 2003 trong việc thu hồi đất để phục vụ các dự án đầu tư, quy định hiện hành tại Điều 62 Luật Đất đai năm 2013 chứa đựng một số điểm cần làm rõ như sau:

Một là, vẫn chưa có văn bản hướng dẫn, giải thích rõ thế nào là mục đích công cộng hay lợi ích công cộng, quốc gia. Với cách xác định dự án phát triển kinh tế – xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng như hiện nay thông qua cách liệt kê tên dự án sẽ giúp ngăn chặn việc lạm dụng chế định này để thu hồi đất cho các dự án thuần kinh tế, chỉ phục vụ cho mục tiêu lợi nhuận của nhà đầu tư. Tuy nhiên, cách làm hiện nay có thể dẫn đến một số bất cập sau: (i) do quy định theo cách liệt kê tên dự án, nên sẽ thiếu sự linh động và vì vậy, cơ quan có thẩm quyền có thể rơi vào trường hợp khó xử lý khi cần thu hồi đất vì mục đích quốc gia, công cộng nhưng thời điểm ban hành văn bản chưa dự liệu được hết các tình huống phát sinh trên thực tế; (ii) trong quy định hiện hành có một số thuật ngữ như “chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn”, “vùng phụ cận”… chưa được định nghĩa, giải thích rõ ràng nên có thể dẫn đế sự khó khăn trong cách hiểu và áp dụng hoặc tạo kẽ hở để vận dụng một cách tùy tiện.

Hai là, chưa xác định rõ quy mô dự án (về diện tích và vốn đầu tư) nào thì chủ đầu tư phải thực hiện thỏa thuận sử dụng đất, dự án gì nhà nước thu hồi. Luật Đầu tư công năm 2019 và Luật Đầu tư năm 2020 đã có quy định về những dự án thuộc thẩm quyền chấp thuận đầu tư của Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ, nhưng ở cấp tỉnh thì chưa có quy định cụ thể. Từ đó, nếu những dự án có quy mô tương đối nhỏ, nhưng lại được xác định là vì “quốc gia, công cộng” và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đứng ra thu hồi theo quy định tại Điều 62 Luật Đất đai năm 2013, sẽ dẫn đến sự không đồng thuận cao từ người bị thu hồi đất.

Ba là, chưa xác định rõ ranh giới giữa trường hợp Nhà nước thu hồi đất để tạo quỹ đất sạch để đấu giá quyền sử dụng đất phục vụ sản xuất, kinh doanh, thương mại, dịch vụ với trường hợp nhà đầu tư phải tự thỏa thuận nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh. Ngoài ra, quy định hiện hành chưa xác định rõ ranh giới giữa kêu gọi xã hội hóa thực hiện một số dự án của nhà nước với việc thu hồi đất để chủ đầu tư làm dự án. Mặc dù hiện nay cơ chế chuyển dịch đất đai tự nguyện đã được điều chỉnh bởi Điều 73 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 16 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP (được bổ sung bởi Khoản 15 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP). Tuy nhiên, những quy định trên còn mang tính chung chung và thiếu cơ sở pháp lý hướng dẫn việc phân định rõ ràng trường hợp chủ đầu tư sử dụng đất phải thực hiện theo cơ chế thoả thuận với người đang sử dụng đất hoặc thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi. Thêm vào đó, chưa có sự phân rõ về điều kiện áp dụng cơ chế đầu tư khai thác quỹ đất của Tổ chức phát triển quỹ đất và điều kiện về không còn quỹ đất tại địa phương để chủ đầu tư áp dụng cơ chế thoả thuận chuyển nhượng, thuê lại hoặc nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

Lý do chủ đầu tư có thể “lách” ở điều kiện này là theo quy định của pháp luật, cơ quan có thẩm quyền có quyền thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được duyệt và công bố. Đồng thời, Tổ chức phát triển quỹ đất có chức năng được ứng vốn từ Quỹ phát triển đất hoặc nguồn khác để khai thác và phát triển quỹ đất, vì vậy, chủ đầu tư có thể tiếp cận đất bằng cách khi địa phương thiếu vốn đầu tư khai thác quỹ đất, trong trường hợp này, thay vì chủ đầu tư sẽ thoả thuận trực tiếp với người dân đang sử dụng đất, thì họ lại đi đường vòng bằng cách ứng vốn để chính quyền địa phương thu hồi đất (theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất), bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và sau đó giao có thu tiền hoặc cho chủ đầu tư thuê lại. Với cách làm này, địa phương sẽ có thể tăng thu cho ngân sách, chủ đầu tư tránh rơi vào tình trạng đã nhận chuyển nhượng được hầu hết diện tích nhưng gặp phải một số hộ dân không đồng ý chuyển nhượng hoặc đưa ra giá chuyển nhượng bất hợp lý…

Kiến nghị

Thứ nhất, Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần nghiên cứu ban hành Nghị quyết xác định rõ những vấn đề, lĩnh vực nào là lợi ích quốc gia, công cộng ở Việt Nam và các tổ chức, cá nhân phải tôn trọng, ưu tiên những vấn đề, trường hợp đó.

Thứ hai, cần có văn bản giải thích của cơ quan Trung ương về các thuật ngữ chưa rõ nghĩa, nội hàm tại Điều 62 Luật Đất đai năm 2013 để thống nhất cách hiểu và áp dụng giữa các địa phương trên cả nước.

Thứ ba, cần ban hành cơ chế hướng dẫn rõ trường hợp nào người bị thu hồi đất có thể tự mình hoặc hợp tác với nhà đầu tư thực hiện dự án theo đúng kế hoạch sử dụng đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà không bị thu hồi đất.

Thứ tư, xác định rõ dự án thuộc Khoản 3 Điều 62 Luật Đất đai năm 2013 có quy mô diện tích và mức vốn đầu tư như thế nào thuộc thẩm quyền chấp thuận thu hồi đất của Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh và trường hợp nào nhà đầu tư phải áp dụng cơ chế chuyển dịch đất đai tự nguyện theo Điều 73 Luật Đất đai năm 2013. Đồng thời, xác định rõ ranh giới áp dụng cơ chế chuyển dịch đất đai bắt buộc với cơ chế chuyển dịch đất đai tự nguyện, trong trường hợp dự án phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Chính phủ đề nghị sửa 11 nhóm chính sách trong Luật đất đai
11 nhóm chính sách được đề nghị sửa đổi, bổ sung gồm: Làm rõ vai trò, trách nhiệm của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý đất đai; phân cấp phân quyền và cải cách thủ tục hành chính; phân loại đất theo mục đích sử dụng, theo không gian và chức năng sử dụng đất…
Chính phủ cũng đề nghị sửa đổi, bổ sung quy định về việc thu hồi đất để khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; hoàn thiện chính sách chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng sang mục đích khác; quản lý, sử dụng đất nông nghiệp nhằm khuyến khích tập trung, tích tụ đất đai để sản xuất nông nghiệp tập trung, quy mô lớn; hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp đất đai.
Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2014. Theo tổng kết của Chính phủ, sau hơn 7 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, Luật Đất đai đã bộc lộ một số hạn chế. Đó là nguồn lực về đất đai chưa thực sự được khai thác, phát huy đầy đủ để phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; nhiều dự án chậm hoặc không đưa đất vào sử dụng; tình trạng tham nhũng, trục lợi và thất thoát nguồn thu ngân sách liên quan đến đất đai vẫn còn diễn ra…

Trần Vang Phủ(1), Trần Thụy Quốc Thái(2)

(1) Thạc sỹ, NCS, Giảng viên tại Khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ; Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài thương mại Tp. Hồ Chí Minh; email: vangphu@gmail.com; ĐT: 0939 148 789
(2) Thạc sỹ, Giảng viên tại Khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ, email: ttqthai@ctu.edu.vn
(3) Điều 40 Luật Đất đai năm 2003.
(4) Khoản 2 Điều 36 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai quy định các trường hợp nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế:
a) Sử dụng đất để đầu tư xây dựng khu công nghiệp quy định tại Điều 90 của Luật Đất đai, khu công nghệ cao quy định tại Điều 91 của Luật Đất đai, khu kinh tế quy định tại Điều 92 của Luật Đất đai;
b) Sử dụng đất để thực hiện các dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, du lịch thuộc nhóm A theo quy định của pháp luật về đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt hoặc cho phép đầu tư mà dự án đó không thể đầu tư trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế;
c) Sử dụng đất để thực hiện các dự án đầu tư có nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA);
d) Sử dụng đất để thực hiện dự án có một trăm phần trăm (100%) vốn đầu tư nước ngoài đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt hoặc cho phép đầu tư mà dự án đó không thể đầu tư trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế.
(5) Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và cung ứng dịch vụ cho sản xuất công nghiệp (Khoản 16 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020).
(6) Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, cung ứng dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu (Khoản 15 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020).
(7) Khu kinh tế là khu vực có ranh giới địa lý xác định, gồm nhiều khu chức năng, được thành lập để thực hiện các mục tiêu thu hút đầu tư, phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ quốc phòng, an ninh (Khoản 17 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020).
(8) Khoản 9 Điều 2 Nghị định số số 11/2013/NĐ-CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ về Quản lý đầu tư phát triển đô thị.
(9) Mục 1.4.14 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng số 01:2021/BXD.
(10) GS.TS.NGƯT. Bùi Xuân Phong, Lợi ích kinh tế xã hội của dự án đầu tư, http://quantri.vn/dict/details/9250-loi-ich-kinh-te-xa-hoi-cua-du-an-dau-tu, truy cập ngày 22/6/2018.
(11) Criteria of market economy, http://www.china.org.cn/english/2003chinamarket/79507.htm, truy cập ngày 19/02/2018. Xem thêm Khoản 18 Điều 1677 Luật về Thuế hải quan của Hoa Kỳ (19U. S. C — 1677(18)).
(12) Jonathan Mills Lindsay, PPP Insights: Compulsory Acquisition of Land and Compensation in Infrastructure Projects, https://ppp.worldbank.org/public-private-partnership/library/ppp-insights-compulsory-acquisition-land-and-compensation-infrastructure-projects-0, truy cập ngày 04/6/2018.
(13) Trần Vang Phủ, Những khó khăn khi áp dụng cơ chế chuyển dịch đất đai tự nguyện ở Việt Nam và một số giải pháp, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 12 – 2015, tr. 82.
(14) Chris Wheeler, The public interest we know it’s important, but do we know what it means, http://www5.austlii.edu.au/au/journals/AIAdminLawF/2006/2.pdf, truy cập ngày 04/6/2018.

Chủ đề:
Bạn đang xem danh mục: Bàn tròn
Tin cập nhật
Sự kiện
Tam nông