03:14 - 22/12/2017

Bảo vệ nông dân bằng luật

Bài: Cần phải sửa quy định đẻ ra “hai giá đất”

“Khi luật pháp còn để cho việc một ai đó ký quyết định hành chính mà ra tiền, thậm chí ra rất nhiều tiền thì không ổn, tạo ra hệ lụy xấu. Mà ở nước ta, việc này đang là thực tế đối với “người có thẩm quyền”. Ký quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất có thể ra tiền, ký quyết định cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp cũng có thể ra tiền. Cơ chế này cần phải thay đổi”

Đó là phân tích của Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Hùng Võ – nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, chuyên gia độc lập về phân tích chính sách đất đai khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Tạp chí Nông Thôn Mới.

Trước câu chuyện mà Tạp chí Nông Thôn Mới đã nêu tại số xuất bản kỳ 1 tháng 11.2017 có đề cập đến câu chuyện người nông dân rất đau lòng vì bị thu hồi 1.000m2 đất tại thành phố Đà Lạt và nhận tiền bồi thường là 155 triệu đồng. Cầm số tiền này đi tìm mua lại một thửa đất tương tự gần đó, nông dân không mua nổi. Theo ông Hoàng Bá Bình –Chủ tịch Hội Nông dân phường 11 – Thành phố Đà Lạt, cần phải bỏ ra 2 tỷ đồng mới có thể mua nổi. Từ câu chuyện này và những chuyện tương tự ở nhiều địa phương khác, phóng viên đã có cuộc trao đổi thẳng thắn với GS Đặng Hùng Võ.

Thưa Giáo sư, từ câu chuyện nêu trên, ông đánh giá cơ chế “hai giá đất” liên quan đến quy định của Luật Đất đai 2013 đang tạo ra những hệ lụy gì cho người nông dân?  

“Hai giá đất” là một trong hai vế của một vấn đề, mà tôi sẽ nói sau một chút.

Vế trước của vấn đề, theo tôi là quan trọng hơn, cần phải nói trước, đó là câu chuyện về đảm bảo sinh kế cho người dân khi bị thu hồi đất.

Theo quy định hiện nay, với người dân bị thu hồi đất, nhà nước có chính sách đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, nhưng vấn đề nằm ở chỗ là không thể áp dụng dạy nghề cho toàn thể người dân bị thu hồi đất, mà chỉ có thể áp dụng cho người trẻ, còn có điều kiện học và  áp dụng, sống được với nghề. Còn những người lớn tuổi thì khó có thể học nghề và đảm bảo sinh kế. Thực tế đã xảy ra nhiều nơi là người dân nhận tiền bồi thường, sau khoảng 5 năm là tiêu hết, sau đó không có cách để làm ra tiền. Cách xóa đói giảm nghèo tốt nhất cho những người như họ là đất sản xuất. Không có đất nữa, họ dễ dàng rơi vào đói. Cho đến nay vẫn chưa có được một chính sách giải quyết được vấn đề nông dân bị thu hồi đất, không chuyển đổi được nghề thì làm gì.

Thời gian trước khi Quốc hội xem xét thông qua Luật Đất đai 2013, tôi có đưa ra một số kiến nghị về chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất theo hướng: Cho đến khi người dân bị thu hồi đất chưa có được sinh kế mới, thì doanh nghiệp lấy đất tạo việc làm, sinh kế mới cho nông dân, khi chưa tạo được thì doanh nghiệp phải trả cho người bị thu hồi đất đúng như thu nhập của họ trước kia. Như vậy, buộc doanh nghiệp phải chủ động đi tìm việc làm mới cho nông dân bị thu hồi đất.

G.TSKH Đặng Hùng Võ

Quay trở lại câu chuyện “hai giá đất” trong tính bồi thường cho người bị thu hồi đất, kể từ Luật Đất đai 2003 tới Luật Đất đai hiện hành thì pháp luật đã thừa nhận giá đất thị trường và quy định giá đất của Nhà nước phải tương đương giá đất thị trường. Từ khi có quy định như vậy cho đến nay thì quy định vẫn là trên giấy, trên thực tế vẫn tồn tại 2 giá đất, giá đất do Nhà nước quyết định đối với từng trường hợp cụ thể vẫn thấp hơn khá nhiều so với giá đất trên thị trường. Ở những siêu đô thị, giá đất do Nhà nước quyết định vẫn chỉ bằng khoảng 30% giá đất trên thị trường.

Giáo sư có thể nói lại về những đề xuất của ông vào năm 2003, khi Quốc hội đang xem xét sửa Luật Đất đai?

Lúc đó, theo chính sách hiện hành, khi doanh nghiệp lấy đất làm dự án thì ngoài việc bồi thường về đất tính theo giá đất phù hợp thị trường, nhà nước còn phải hỗ trợ bảo đảm sinh kế bằng gạo trong một thời gian nhất định cho nông dân bị thu hồi đất. Đến khi hết hỗ trợ của nhà nước mà người nông dân vẫn chưa có sinh kế mới thì cũng không ai lo tiếp và chắc chắn nông dân sẽ rơi vào nghèo đói. Tôi đề nghị áp dụng chính sách là khi hết hỗ trợ bảo đảm sinh kế của Nhà nước mà nông dân bị thu hồi đất vẫn chưa có sinh kế mới thì doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm tìm ra sinh kế mới cho người bị mất đất cho dự án; khi doanh nghiệp tìm chưa ra sinh kế mới thì phải trả người nông dân thu nhập như trước khi bị thu hồi đất.

Cách làm này sẽ buộc doanh nghiệp phải tiếp nhận lao động địa phương vào làm trong dự án của mình hoặc mở một số ngành sản xuất hay dịch vụ không đòi hỏi trình độ cao về lao động để người nông dân mất đất làm việc và sinh sống. Doanh nghiệp sẽ buộc phải tìm cách tạo việc làm không chỉ trong dự án của mình, nếu không muốn tiếp tục trả tiền như thu nhập trước đây cho người dân bị thu hồi đất. Về việc làm cho nông dân dân bị thu hồi đất, có thể ví dụ như mở một xưởng làm gạch không nung, hay mở cơ sở sản xuất mây tre đan xuất khẩu, hay một cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch cộng đồng, v.v. Về nguyên tắc, phải bảo đảm sinh kế của người bị thu hồi đất phải tốt hơn hoặc ít nhất là bằng sinh kế trước khi mất đất. Điều này có nghĩa là phải gắn trách nhiệm thực sự của doanh nghiệp lấy đất với việc tìm nghề mới phù hợp với trình độ nông dân, chứ không chỉ dựa vào đào tạo nghề cho nông dân rồi mặc họ có chuyển đổi được hay không. Thực tế cho thấy, tìm được việc có thu nhập sau đào tạo nghề mới là một việc đang ít tính khả thi, nhất là nhiều Trung tâm đào tạo nghề hiện nay chỉ dậy cái mình biết chứ không dậy được cái nông dân cần.

Hình minh họa

Thực tế thì doanh nghiệp không thích làm vậy, chỉ muốn lấy đất ngay, còn Nhà nước muốn khuyến khích doanh nghiệp đầu tư để có phát triển. Vậy người dân phải làm gì để giảm thiệt thòi?

Tôi cho rằng, vào thời điểm nhiều năm trước, khi nhà nước đang muốn lôi kéo đầu tư của doanh nghiệp, nên có việc tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp về đất đai, mặt bằng, có khi vì vậy mà “ép” người nông dân một chút. Giai đoạn đầu của phát triển, việc đó còn có thể làm ngơ được. Nhưng đến bây giờ, có thể thấy không phải doanh nghiệp nào cũng mang lại lợi ích cho đất nước. Nhiều doanh nghiệp lấy đất xong thì để không ở đấy. Lúc này cần phải lựa chọn doanh nghiệp nào có thực tâm, có năng lực tài chính để không chỉ giải quyết việc của họ, mà còn giải quyết được việc đào tạo, giải quyết sinh kế, tìm “cần câu” cho người nông dân trong hoàn cảnh họ không còn đất nữa.

Tôi cho rằng, cần phải làm như thế mới đúng và giải quyết tốt nhu cầu cho người bị thu hồi đất. Ở đây phải hiểu là để có một dự án đầu tư thì nhà đầu tư có tiền, có kỹ thuật, còn người nông dân có đất. Hai bên phải chia sẻ lợi ích từ đầu tư. Không thể quan niệm là người nông dân bắt buộc phải chuyển nhượng đất cho doanh nghiệp khi họ không muốn.

Thưa Giáo sư, với một số nước đã giải quyết thỏa đáng chuyện này, kinh nghiệm của họ như thế nào?

Ở nhiều nước, họ có quy định về sự chia sẻ hài hòa lợi ích, chẳng hạn ở câu chuyện doanh nghiệp lấy đất nông nghiệp làm thủy điện, khai thác mỏ.., Nhà nước yêu cầu doanh nghiệp phải có trách nhiệm đóng góp phát triển hạ tầng cho địa phương, mở các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ để tạo việc làm cho nông dân địa phương, người dân địa phương được sử dụng điện với giứa ưu đãi và các dự án thủy điện cũng chỉ được khai thác trong một thời hạn nhất định, sai đó phải chuyển giao cho địa phương tiếp tuc khai thác và thu lợi nhuận. Người ta gọi đây là chính sách “chia sẻ lợi ích”.

Tôi phải nói thêm, đây không còn là cách làm cá biệt của một vài quốc gia, mà đã được tất cả các nước công nghiệp phát triển trên thế giới áp dụng, ngay cả “các nước công nghiệp mới” như Ấn Độ, Brazil, Nam Phi… cũng đã áp dụng. Điều này đã được đúc kết thành khuyến nghị chính sách bảo đảm an toàn xã hội của Ngân hàng Thế giới.

Thưa giáo sư, đến nay ông có còn kiên trì với khuyến nghị chính sách này?

Tôi vẫn giữ nguyên quan điểm đề xuất như trên!

Giả sử đề xuất của Giáo sư được tiếp thu, để được ghi nhận và đi vào thực thi, chính sách như vậy cần phải vào được văn bản pháp lý nào, thưa Giáo sư?

Để thực thi được tốt nhất, những nội dung này cần phải quy định ở luật đất đai. Tất nhiên, ngay cả khi chưa được chấp nhận ở luật thì Chính phủ có thể quy định ở dạng một nghị định cũng được, thậm chí quy định tại một thông tư cấp bộ cũng được, miễn là được quy định tại một văn bản quy phạm pháp luật.

Tất nhiên, một khi làm được việc này, doanh nghiệp sẽ không thích. Nhưng khi có quy định pháp luật, doanh nghiệp phải chấp hành và phải quen dần với việc khi lấy đất thì phải nghĩ đến chuyện tạo việc làm cho người dân mất đất cho mình.

Cư dân tại chung cư tái định cư Vĩnh Lộc B (huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh) gặp khó khăn vì chung cư tái định cư mà họ được bố trí cách xa khu vực canh tác, sinh kế gặp nhiều khó khăn. Ảnh Vũ Phượng

Xin được quay trở lại cơ chế “hai giá đất” đang gây đau khổ cho nhiều nông dân mất đất, quan điểm của Giáo sư về vấn đề này như thế nào?

Như trên đã nói, pháp luật về đất đai quy định chỉ có một giá đất, đó là giá đất phù hợp thị trường. Việc tồn tại “cơ chế hai giá” là chuyện thực tiễn đang diễn ra mặc dù thực tiễn đó đang vi phạm pháp luật. Rất nhiều chính sách tài chính đất đai hiện nay đang không được thực thi trên phạm vi cả nước nhưng không ai bị làm sao cả.

 Trong thực tế áp dụng Luật  Đất đai 2013, các quyết định hành chính có thể tạo ra tiền, thậm chí rất nhiều tiền cho người ký hoặc đối tượng doanh nghiệp, nhưng lại tạo ra “nỗi đau” cho nông dân mất đất. Thưa Giáo sư, việc này cần được giải thích ra sao?

Chính cơ chế giá đất đã tạo ra tiền đề cho việc Quyết định hành chính có thể tạo ra một giá trị nào đó (thường định giá bằng tiền). Khi đó, cơ chế này sẽ góp phần làm phức tạp xã hội từ nguy cơ tham nhũng. Khi luật pháp còn để cho việc một ai đó ký quyết định hành chính mà “ra tiền” thì thiếu lành mạnh. “Ký ra tiền” tạo ra hệ lụy xấu cho bảo đảm bền vững xã hội, khó phòng chống tham nhũng.  Cơ chế này có thể thay đổi được không, thưa Giáo sư?

Tôi cho rằng, nếu “chúng ta” thành tâm chống tham nhũng thì có thể thay đổi được! Để xây dựng một hệ thống pháp luật đất đai mà không ai “có thẩm quyền” ký được ra tiền là điều làm được.

Có ý kiến phân tích rằng, nước ta quy định sở hữu toàn dân về đất đai, người dân cụ thể không có quyền sở hữu đất, đây có phải là nguyên nhân chính của việc định giá đất không ngang với giá thị trường?

Luật Đất đai nước ta đã thừa nhận “quyền sử dụng đất” là tài sản của người sử dụng đất. Đây là phương thức pháp luật của nước ta để vận hành chế độ công hữu về đất đai trong cơ chế thị trường. Trên thực tế, quyền sử dung đất có nội dung gần như quyền sở hữu đất. Nói quy định sở hữu toàn dân về đất đai là nguyên nhân chính gây thiệt hại cho người bị thu hồi đất là không đúng.

Thưa Giáo sư, các cơ quan có thẩm quyền nên bắt đầu từ đâu và quy trình pháp lý cần có như thế nào để cải thiện vấn đề này?

Luật Đất đai 2013 có nhiều cải tiến hơn về định giá đất so với Luật Đất đai 2003, trong đó quy định các trường hợp áp dụng giá đất của Nhà nước và các trường hợp phải định giá đất cụ thể, đồng thời đưa ra quy trình định giá đất cụ thể. Giá đất của Nhà nước chỉ áp dụng chủ yếu để tính thuế, phí, lệ phí và giá đất trong các trường hợp được ưu đãi. Các trường hợp giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho chuyển mục đích sử dụng đất, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và cộng nhận quyền sử dụng đất mà không có ưu đãi đều phải định giá cụ thể phù hợp giá đất trên thị trường.

Về quy trình định giá đất cụ thể, Sở Tài nguyên Môi trường chủ trì xác định giá đất, trình lên Hội đồng thẩm định giá đất cấp tỉnh, kết quả thẩm định trình lên Chủ tịch UBND cấp tỉnh để quyết định. Quy trình này cũng tương tự về hình thức như quy trình định giá đất của Đài Loan. Sự khác biệt nhiều lại ở nội dung: (1) bước 1 của Đài Loan là một tổ chức định giá độc lập xác định giá đất phù hợp thị trường khác với ở ta là Sở Tài nguyên và Môi trường; (2) Hội đồng thẩm định giá đất cấp tỉnh của Đài Loan có yêu cầu hơn 50% thành viên hội đồng là các chuyên gia định giá độc lập, còn ở ta tình chỉ yêu cầu có chuyên gia định giá độc lập thôi, một là đủ rồi. Như vậy, mọi người có thể tự bình luận về sự giống nhau và khác nhau giữa ta và Đài Loan trong lĩnh vực định giá đất

Tham chiếu tới một số nước tiên tiến khác ở Âu Mỹ, việc định giá đất được giao hoàn toàn cho các tổ chức định giá độc lập ngoài nhà nước. Nếu có khiếu nại, thì nhà nước giao cho một tổ chức định giá độc lập khác thẩm định lại. Nếu không có sự thống nhất, hai tổ chức định giá này có thể ra tranh luận và giải quyết tại tòa án.

Chủ tịch UBND xã Sơn Dương đọc Quyết định của UBND huyện Hoành Bồ về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với thửa đất của hộ gia đình bà Nguyễn Thị Kiểm thôn Đồng Vang, xã Sơn Dương, Hoành Bồ, Quảng Ninh (2016). Nguồn: quangninh.gov.vn

Hiện nay, Hội nông dân đang được giao xây dựng dự án Luật Nông dân để bảo vệ người nông dân một cách toàn diện hơn. Giáo sư có bình luận gì thêm về câu chuyện này?

Nông dân được xếp vào nhóm yếu thế. Không chỉ ở Việt Nam mà ở tất cả các nước đều cho rằng nông dân nói chung và các hộ nông dân nhỏ đều thuộc vào nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương. Vậy việc bảo vệ quyền và lợi ích của người nông dân và các hộ nông dân nhỏ là việc mà tất cả các nước đều làm.

Thế họ làm bằng cách gì?

Một trong những kinh nghiệm rút ra từ tất cả các nước là người nông dân phải có đất, đấy chính là cái cần câu mà chính sách của Nhà nước phải trao cho họ, không thể trợ giúp cho nông dân bằng thóc hay tiền theo kiểu bao cấp. Đất đai là phương tiện để xóa đói giảm nghèo hiệu quả nhất, đấy là phương tiện tạo sinh kế cho người nông dân. Thế giới họ đã rút ra điều rất giản dị đó!

Câu chuyện ở Việt Nam trên thực tế không đảm bảo được điều kiện như các nước trên thế giới, người nông dân bị thu hồi đất ruộng thì gần như được bồi thường bằng một cục tiền, có thể nhiều, có thể ít, thậm chí có những trường hợp nhiều hơn giá thị trường tại những dự án của Nhà nước không thể lùi thời hạn ví dụ như bồi thường cho người dân mất đất để làm sân vận động Mỹ Đình cho kịp tổ chức SEA Games. Lúc đó có nhiều hộ nông dân trước đây chưa bao giờ nhìn thấy 100 triệu thì lúc này được cầm trong tay vài tỷ. Bồi thường một lần, kể cả nhiều cũng không phải là phương thức tốt vì nông dân không biết sử dụng tiền để tạo ra sinh kế, tiêu đến một lúc là hết và lại rơi vào nghèo đói. Tìm sinh kế bền vững vẫn là giải pháp quan trọng nhất.

Trong điều kiện hiện nay, những khuyến cáo của Giáo sư cần được thảo luận ở những tổ chức nào để được sự chú ý cao hơn và có chuyển hóa tốt hơn?

Tôi cho rằng, thứ nhất, bản thân người nông dân phải ý thức được mình đang cần gì, cần đất để bảo đảm được sinh kế bền vững, nếu không có đất thì phải có nghề gì chính thức để tạo ra sinh kế bền vững?

Để người nông dân ý thức được thì chắc chắn báo chí là một trong những phương tiện giúp cho họ hình dung được cái cụ thể họ cần là gì. Tổ chức Hội Nông dân Việt Nam –  tổ chức chính trị – xã hội, cần có nhiều hoạt động mạnh mẽ hơn nữa để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người nông dân. Trong đó có lợi ích của người nông dân quan trọng nhất là phải có sinh kế bền vững. Hội cần chú ý mạnh mẽ hơn, nâng cao hơn nữa vai trò “txã hội” của tổ chức mình để tham gia giải quyết có hiệu quả hơn nữa những khó khăn bức xúc trong đời sống của đông đảo hội viên nông dân.

Một số chuyên gia phân tích rằng, để có thể đại diện cho nông dân trên khía cạnh luật pháp, vai trò đại diện của Hội Nông dân Việt Nam cần được luật quy định. Ý kiến của Giáo sư về vấn đề này như thế nào? 

Theo tôi, điều đầu tiên, Hội nông dân Việt Nam phải thay đổi chính mình, để hoạt động hiệu quả hơn. Ví dụ, vụ kiện VEDAN ở Đồng Nai trước đây, lúc đó những người nông dân bị thiệt hại do việc xả thải của VEDAN ra môi trường nước, họ rất cần một tổ chức đại diện cho mình nhưng Hội nông dân địa phương ngày đó chưa đại diện được cho nông dân tham gia tố tụng, chỉ sau khi nông dân viết đơn ủy nhiệm mới có thể tham gia bảo vệ hội viên bằng luật.

Điều thứ hai, thân phận Hội Nông dân như thế nào cũng cần được xác định trong các văn bản pháp luật. Hội Nông dân vẫn được coi là tổ chức chính trị – xã hội, nhưng thực sự thì mang chất chính trị nhiều hơn, chất xã hội chưa nhiều, cần phải đẩy lên cao hơn hiện nay. Một khi tổ chức Hội nông dân chưa xác định được vị trí pháp lý với tư cách đại diện cho quyền và lợi ích của nông dân trong mọi quá trình, kể cả quá trình xây dựng luật pháp, thì hiệu quả hoạt động chưa thể cao. Khi Hội thực sự bảo vệ được nông dân thì chắc chắn nông dân không tiếc tiền đóng góp cho Hội và Hội cũng không cần tới ngân sách của Nhà nước nữa.

Trân trọng cảm ơn Giáo sư

Hoàng Sơn thực hiện

Chủ đề:
Bạn đang xem danh mục: Bàn tròn, Tiêu điểmDanh mục
Tin cập nhật
Sự kiện
  • Trao cơ chế chính sách đặc thù để 4 tỉnh, thành phát triển bứt phá

    Các nghị quyết về cơ chế đặc thù nhằm phát huy tiềm năng lợi thế của Hải Phòng, Thanh Hoá, Nghệ An và Thừa Thiên Huế, đưa các địa phương này trở thành đầu tàu kéo các tỉnh xung quanh. Sáng 22/10, Quốc hội thảo luận về dự thảo Nghị quyết về một số cơ […]

  • Sử dụng công nghệ số giúp nông dân tiêu thụ nông sản tốt hơn

    Đó là ý kiến của ông Nguyễn Xuân Định – Phó Chủ tịch Ban Chấp hành T.Ư Hội Nông dân Việt Nam trong buổi làm việc với Đoàn của Công ty Bưu điện Việt Nam (Vietnam Post) do ông Nguyễn Kiên Cường – Phó Tổng Giám đốc làm trưởng đoàn vào sáng ngày 22.10.2021, tại […]

  • Đường Hồ Chí Minh trên biển không chỉ là huyền thoại

    Có lẽ cho đến thời điểm này, không một hải trình nào, không một lịch sử hàng hải nào trên thế giới có thể làm nên một con đường đi biển huyền thoại như những gì mà những thủy thủ của những “Chuyến tàu không số” làm nên trong lịch sử bảo vệ đất nước […]

Tam nông