21:30 - 15/07/2019

Xuất khẩu nông sản: Nói dễ, làm khó

Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA) vừa được ký kết, có thể nói đã mở ra một cơ hội lớn cho ngành Nông nghiệp nước nhà, với mục tiêu xuất khẩu đạt 43 tỷ đô la Mỹ trong năm 2019 này. Song trên thực tế, khả năng làm được điều mong ước không phải dễ dàng, khi hiện trạng nền sản xuất nông nghiệp Việt Nam còn quá nhiều khúc mắc từ năng lực cơ sở.

Bảo quản vải theo công nghệ CAS (Cells Alive System) để xuất khẩu. Ảnh I.T

Trong một đánh giá mới đây về thực lực xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam, bà Vũ Thị Kim Hạnh, Chủ tịch Hội Hàng Việt Nam chất lượng cao cho rằng, phần lớn nông sản nước nhà chỉ xuất khẩu vào các nước khác qua con đường tiểu ngạch, cụ thể là với Trung Quốc. Chỉ mới có khoảng 5% nông sản Việt đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế, để có thể xuất khẩu chính ngạch vào các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật, Hàn, châu Âu…

Bà Hạnh cũng nhấn mạnh rằng, con số xuất khẩu đạt được trong năm 2018 mà ngành Nông nghiệp công bố, là 40 tỷ đô la Mỹ, thực chất chưa thể hiện hết năng lực xuất khẩu nông sản Việt. Nhưng chính trong con số này, thực tế các chi phí mà các cơ sở sản xuất và nhất là người nông dân nhận được, lại không nhiều. Một lượng quá lớn hàng nông sản Việt đang phải xuất qua các trung gian “chân gỗ” nên tăng giá nhiều lần. Nếu có thể điều chỉnh lại chất lượng hàng nông sản Việt, đạt các tiêu chuẩn cao để xuất chính ngạch, người nông dân Việt Nam sẽ không bị thất thu khi giá trị mua vào trên thực tế của các nước là gấp nhiều lần giá họ bán ra.

Ông Đặng Văn Hồng, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Đà Nẵng cũng tâm tư, khi xem các phóng sự trên truyền hình quốc gia về tình hình đầy lạc quan về xuất khẩu vải thiều Bắc Giang qua Trung Quốc đầu mùa Hè 2019, cho biết giá mua vải thiều đã cao hơn nhiều lần so với trước đây xuất tiểu ngạch hay bán nội địa, ông đã rất buồn lòng. Hóa ra hàng chục năm qua, hàng nông sản nước ta đang bán rẻ hơn thực tế cho phép. “Mà điều này, lại liên quan đến năng lực làm hàng xuất khẩu của chúng ta. Hàng nông sản chúng ta không đạt các tiêu chuẩn quốc tế, không phải do chất lượng giống, cây trồng kém, mà là do các khâu thu hoạch, quản lý, chế biến quá kém và đơn điệu. Như người thợ ngọc có đá quý mà không biết mài gọt, cuối cùng chỉ bán được với giá phế liệu, thì làm sao có thể đạt giá trị cao với hàng hóa làm ra?”- ông Hồng phàn nàn như vậy.

Theo đánh giá gần đây của Bộ NN&PTNT, thực trạng bị hạn chế về năng lực xuất khẩu do các công đoạn sau thu hoạch nông sản là có thật. Phần lớn người nông dân hiện nay, và cả những doanh nghiệp thu mua chế biến nông sản trong nước, vẫn chưa thoát khỏi những rào cản về tư duy xử lý, giải quyết các bài toán công nghệ về thu hoạch, bảo quản và chế biến nông sản sao cho bảo đảm chất lượng hơn, bảo quản tốt hơn và có khả năng chế biến nông sản đa dạng hơn.

Cụ thể về thu hoạch, ai cũng biết rõ các khuôn viên trồng trọt ở nông thôn, các vườn cây, trang trại… lâu nay không được rộng rãi do tư duy “be bờ, mở thửa”. Thói quen thu hoạch của người nông dân Việt là… hái bằng tay, gặt bằng liềm… Việc ứng dụng những máy móc công nghệ trong thu hoạch tại các cánh đồng và nông trại nước ta rất hạn chế.

Về bảo quản sau thu hoạch, phương thức phổ biến tại các đơn vị chế biến nông sản, các hợp tác xã… lâu nay chủ yếu chỉ có dùng kho đông, kho lạnh, rất ít có cơ sở đủ điều kiện làm các kho bảo quản nông sản tiêu chuẩn quốc tế. Không phải người nông dân hay doanh nghiệp không thấy yêu cầu này, song với thói quen tâm lý “xưa bày, nay bắt chước”, ngại đầu tư vốn, phần lớn các cơ sở đều giới hạn năng lực xử lý nông sản và bảo quản trong phạm vi tối thiểu. Kể cả các đơn vị chuyên canh nông sản giá trị, như trồng nho, chế biến điều… cũng chỉ bảo quản nông sản thu hoạch được trong tủ cấp đông hay kho lạnh, chứ không mạnh dạn đề cập những yêu cầu đầu tư máy móc bảo ôn, lọc khí, diệt khuẩn… đúng tiêu chuẩn xuất khẩu đặt ra.

Nâng cao chất lượng nông sản để xuất khẩu chính ngạch sang thị trường Trung Quốc. Ảnh: I.T

Đặc biệt về chế biến, có thể nói đến nay, lĩnh vực chế biến nông sản Việt là một trong những địa hạt kém cập nhật kịp các phương thức chế biến trên thế giới. Bà K.C, chuyên gia hàng xuất nhập khẩu khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng chia sẻ, phương thức đã có từ lâu của các cơ sở chế biến nông sản Việt là làm khô sản phẩm, hay bỏ vào chiên, tẩm, sấy giòn. Thời hạn bảo quản, sử dụng của sản phẩm vì thế có tăng lên, nhưng chất lượng sản phẩm, nhất là độ dinh dưỡng, hàm lượng vitamin còn lại không được bao nhiêu. Trong khi đó, với thị trường châu Âu, đã từ lâu người tiêu dùng quen với công nghệ lên men, và sấy lạnh các loại nông sản, bảo đảm dinh dưỡng và các chất vitamin không mất đi, độ tươi giòn, ngon ngọt của sản phẩm vẫn bảo đảm. Ngay với một thị trường tưởng đơn giản như Trung Quốc, người tiêu dùng cũng chỉ chấp nhận các loại nông sản có nguồn gốc rõ ràng, bảo đảm cân bằng dinh dưỡng, có thể thay thế các loại thịt động vật, sử dụng các bao bì thân thiện môi trường… Vì lý do này, mà nhiều năm qua, xuất khẩu nông sản Việt sang Trung Quốc chỉ quanh quẩn ở dạng nguyên liệu thô để chế biến thực phẩm, giá bán rất thấp. Sau khi nước này đặt yêu cầu có thể mua chính ngạch hàng nông sản, các tiêu chuẩn hàng hóa chất lượng mới được họ đặt ra, và thật sự bị coi là “làm khó hàng Việt Nam”. Chuyên gia này cũng nhìn nhận: “Ngay cả báo chí khi nói về vấn đề đó, cũng chỉ ở góc cạnh cho rằng các đơn vị nhập khẩu Trung Quốc đưa ra các tiêu chuẩn khó khăn, để ép giá nông sản Việt. Nhưng chỉ cần nhìn vào năng lực bảo quản và chế biến nông sản của chúng ta, vấn đề tiêu chí của Trung Quốc cũng đã là rộng rãi lắm rồi. Muốn đi vào các sân chơi lớn hơn, chúng ta còn phải nâng tiêu chuẩn lên cao thêm nhiều nữa. Cho nên, thay vì đánh giá người ta khó khăn, hãy coi lại thực lực của mình. Nếu nông sản Việt vẫn tự đặt mình ở thế thấp, chiếu dưới, thì không bao giờ có thể đòi hỏi những nhà nhập khẩu mua hàng mình với giá cao”.

Rõ ràng với sự việc EVFTA được ký kết mới đây, cánh cửa xuất khẩu nông sản Việt đã thực sự mở ra thêm một nấc. Nhưng để đi qua nấc đó, rõ ràng sự phấn đấu, thay đổi tư duy, tầm nhìn, năng lực xuất khẩu nông sản Việt phải khác hơn rất nhiều. Nỗ lực của các Bộ ngành, các cơ quan xúc tiến về việc ký kết là đáng ghi nhận, song nỗ lực đó chỉ có kết quả, khi cả một hệ thống to lớn các nhà sản xuất trong nước, nhất là người nông dân Việt cũng phải tham gia, cùng đồng lòng hành động và dám thay đổi.

Nói dễ, làm khó, con đường xuất khẩu nông sản Việt vì thế còn chông gai lắm!

Nguyên Đức

Chủ đề:
Bạn đang xem danh mục: Bàn tròn
Tin cập nhật
Sự kiện
Tam nông
  • Cụm du lịch thác Thủy Tiên tỉnh Đăk Lăk – điểm nhấn đầy hấp dẫn

    Là một trong nhóm sản phẩm dịch vụ du lịch nông thôn đăng ký tham gia Chương trình OCOP tỉnh Đăk Lăk, từ nhiều năm qua Cụm du lịch thác Thủy Tiên (tại xã Ea Púk, huyện Krông Năng) thu hút hàng trăm nghìn lượt khách đến chiêm ngưỡng vẻ đẹp tự nhiên giữa đại […]

  • Khu vực hợp tác xã tạo ra 2,5 triệu việc làm

    Khu vực hợp tác xã hiện tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 2,5 triệu lao động với mức thu nhập bình quân 45 triệu đồng/người/năm. Tính đến tháng 9/2019, Việt Nam đã có tổng số 23.905 hợp tác xã và tăng 6,5% so với năm 2018, trong đó 22.649 hợp tác xã đang hoạt […]

  • Cuộc thi sáng tạo kỹ thuật Nhà nông lần thứ VIII năm 2019-2020

    Cuộc thi sáng tạo kỹ thuật Nhà nông lần thứ VIII năm 2019-2020, được tổ chức trên toàn quốc, nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước, tiềm năng và phát huy tư duy sáng tạo của hội viên nông dân Việt Nam. Mục đích cuộc thi để đánh giá đúng kết quả đạt được; vinh […]