20:14 - 22/04/2020

Xuất khẩu gạo cần tranh thủ “đón sóng” tăng giá

“Việt Nam có thể chủ động nguồn cung trong những chu trình 3-4 tháng, nên việc cầu lúa gạo thế giới đột ngột tăng cao, Việt Nam nên tranh thủ đón ít nhất là sóng đầu tiên. Tức là Việt Nam nên bình tĩnh, chủ động với đợt sóng tăng giá và xuất khẩu gạo theo làn sóng đó để thu lợi nhuận…”.

Đây là một trong những nội dung trong cuộc trả lời phỏng vấn của TS. Nguyễn Đức Thành, thành viên Liên minh Nông nghiệp Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế và Chính sách (VEPR). Đây là quan điểm cá nhân của TS. Nguyễn Đức Thành, để rộng đường trao đổi đa chiều, Làng Mới xin giới thiệu cùng bạn đọc.

TS. Nguyễn Đức Thành

Hoạt động xuất khẩu gạo đã tạm ngừng từ ngày 23.3.2020 theo chỉ đạo của Chính phủ và hiện Bộ Công thương đang kiến nghị phương án sẽ cho phép tiếp tục xuất khẩu gạo nhưng phải kiểm soát chặt số lượng xuất khẩu theo từng tháng. Ông nhận định thế nào về vấn đề này?

Trong bối cảnh các nước lo ngại sẽ thiếu lương thực trong đại dịch, do tâm lý người dân muốn đầu cơ tích trữ, hoặc có thể do hoạt động kinh tế suy giảm, dẫn tới sản lượng giảm, nhiều nước bắt đầu thu gom gạo quy mô lớn. Tuy nhiên, việc ban hành lệnh tạm ngừng xuất khẩu gạo của nước ta là có phần vội vã. Những ngày này, trong khi Việt Nam đóng cửa xuất khẩu gạo, thì Thái Lan “tung hoành” giữa thị trường thế giới. Thời điểm này, Thái Lan không có bất cứ một động thái nào cấm hay ngừng xuất khẩu, vì vậy các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Thái Lan đã và đang tranh thủ thời cơ “một mình một chợ” để tăng lượng xuất khẩu với giá cao.

Nhớ lại vào năm 2008, giá gạo thế giới cũng tăng cao chóng mặt từ đầu năm, và đến khoảng tháng 4 và tháng 5 thì giá tăng dữ dội (theo thống kê của GSO, chỉ trong 1 tháng, giá gạo trong nước đã tăng thêm 36%). Thời điểm ấy, phản ứng của Việt Nam là vội vã đóng cửa thị trường xuất khẩu gạo để bảo vệ thị trường trong nước trước “nỗi lo” an ninh lương thực. Sau đó, cơn sốt gạo qua đi, đến nửa cuối năm 2008 giá gạo trên thế giới bỗng dưng lao dốc xuống chỉ còn 350 USD/tấn và Chính phủ cho phép xuất khẩu gạo trở lại. Hậu quả là, hàng triệu tấn gạo bị tồn kho do lệnh ngừng xuất khẩu trước đó đã dồn sức ép lên tiêu thụ trong nửa cuối năm, khiến xuất khẩu gạo Việt Nam lao đao. Khi ấy, giới kinh doanh đánh giá Việt Nam đã đánh mất một cơ hội xuất khẩu gạo với khối lượng lớn và giá rất tốt. Thực chất giá gạo tăng cao năm 2008 không phải do thế giới thiếu gạo, mà là do lạm phát phi mã trên toàn cầu bắt nguồn từ chính sách tiền tệ sai lầm của nhiều nước vào cuối năm 2007, do không trung hòa lượng USD đã được mua vào ồ ạt trước đó. Ở Việt Nam, gạo là mặt hàng mà nguồn cung có thể được bổ sung sau 3-4 tháng, nên việc lo sợ quá mức về thiếu hụt nguồn cung đã dẫn tới việc đánh mất cơ hội cho cả người sản xuất lúa gạo (nông dân) lẫn các nhà xuất khẩu.

Việt Nam có thể chủ động nguồn cung trong những chu trình 3-4 tháng, nên việc cầu lúa gạo thế giới đột ngột tăng cao, Việt Nam nên tranh thủ đón ít nhất là sóng đầu tiên. Tức là Việt Nam nên bình tĩnh, chủ động với đợt sóng tăng giá và xuất khẩu gạo theo làn sóng đó để thu lợi nhuận. Giá cả và nhu cầu có thể tăng dần, thậm chí tăng mạnh, trong các tháng 4-5, chúng ta vẫn nên chủ động đi theo con sóng đó.

Nhưng nếu để tự do xuất khẩu gạo vào thời điểm này, trong khi người dân trong nước lo ngại vấn đề dịch Covid-19 và sẽ tăng mua gạo, dẫn đến lạm phát tăng cao cũng sẽ là mối lo, thưa ông?

Việc tăng giá gạo nội địa cơ bản là lợi nhiều hơn hại, vì tầng lớp được hưởng lợi căn bản vẫn là nông dân và ngành Nông nghiệp. Các nhóm khác có thể bị thiệt vì giá gạo tăng lên, nhưng gạo chỉ chiếm một tỷ trọng tương đối nhỏ chi tiêu của người tiêu dùng. Năm nay, nếu giả sử giá gạo tăng 30% liên tục trong nửa năm, thì đóng góp của nó vào mức tăng CPI có lẽ chỉ khoảng 1,5%, hoàn toàn chấp nhận được trong bối cảnh lạm phát của Việt Nam được kiểm soát tương đối tốt trong những năm qua (chủ yếu do chính sách tiền tệ chặt chẽ).

Nếu đến mùa sau, việc cung ứng gạo trong nước có dấu hiệu mất cân đối trầm trọng, đặc biệt với tình hình sản lượng giảm do điều kiện thời tiết (nhưng sản lượng này vẫn sẽ luôn luôn lớn hơn tổng lượng tiêu thụ nội địa), thì lúc đó, mới cần cân nhắc điều tiết xuất khẩu. Tôi muốn nhấn mạnh là điều tiết xuất khẩu thôi, còn việc đóng cửa thị trường xuất khẩu là một tình huống cực đoan. Vì về nguyên tắc, do sản lượng gạo của nước ta luôn vượt quá cầu trong nước, nên việc đóng cửa thị trường xuất khẩu thực chất sẽ chắc chắn bảo đảm an ninh lương thực và bình ổn giá gạo (nhưng sẽ phải đối phó với vấn nạn xuất khẩu lậu hết sức mãnh liệt). Tóm lại, tôi cho rằng việc vội vã ra lệnh đóng cửa thị trường xuất khẩu gạo vào thời điểm này, chỉ sau một cuộc họp của Thường trực Chính phủ, là hết sức vội vàng, thiếu tầm nhìn, thiếu tính toán.

Theo tôi, Việt Nam không nên áp dụng chính sách cấm xuất khẩu gạo hoặc chế độ quota lúc này. Tất cả chỉ làm lợi cho các nhóm lợi ích núp bóng nhà nước… đồng thời gây thiệt hại và phân hoá các doanh nghiệp xuất khẩu gạo, khiến thị trường bị đẩy lùi hàng chục năm.

Sản lượng gạo của nước ta luôn vượt quá nhu cầu trong nước. Ảnh: TL

Một số người cho rằng, cấm xuất khẩu gạo lúc này sẽ thúc giá gạo thế giới tăng cao, sau đó chúng ta sẽ xuất khẩu gạo với giá cao hơn, ông nghĩ thế nào về điều này?

Nhiều người bây giờ quay ra chống chế là cấm xuất khẩu gạo lúc này là để sắp tới bán ra thì được giá cao hơn. Cho nên bảo rằng, cấm bụp một cái thế là khôn ngoan sáng suốt rồi. Tiếc thay, đó không phải là việc của Thủ tướng Chính phủ. Nếu muốn dừng xuất khẩu gạo để đợi lên giá mới bán ra tiếp, thì đó là việc của các hiệp hội, các nhóm doanh nghiệp xuất khẩu – nếu họ hiệp thương được trong sự khôn ngoan – như người Trung Quốc vẫn hay làm.

Có nguồn tin (chưa được kiểm chứng – PV) nói rằng, tạm ngừng xuất khẩu gạo là để Nhà nước mua dự trữ xong trước đã cho được giá rẻ nhằm thực hiện mục tiêu An ninh lương thực. Hiện, Tổng cục Dự trữ Nhà nước đang thực hiện thu mua đủ số lượng lương thực dự trữ theo kế hoạch được giao là 300.000 tấn. Nếu lệnh ngừng xuất khẩu gạo nhằm mục đích thu mua dự trữ với giá tốt, thì không nên. Việc mua gạo dự trữ là không hề sai, nhưng ở đây người mua cứ thực hiện như một người tham gia trên thị trường, chứ ai lại dùng quyền lực nhà nước để can thiệp như vậy. Nhất là chưa đến thời điểm phải làm mạnh mẽ, dữ dội đến thế.

Vậy theo ông, chính sách điều hành, điều tiết xuất khẩu gạo thời điểm này nên như thế nào?

Theo tôi, chính sách lúc này nên là đánh “Thuế xuất khẩu” gạo. Mức thuế này sẽ tạo ra sự chênh lệch giá giữa gạo trong nước (phục vụ nhân dân và kho dự trữ quốc gia) và giá gạo thế giới (phục vụ doanh nghiệp và nhà nước có nguồn thu). Ví dụ, nếu đánh thuế xuất khẩu gạo là 30% giá bán. Thì khi giá thế giới là 800 USD một tấn thì giá trong nước sẽ chỉ là 560 USD. Như vậy người dân vẫn được hưởng giá gạo tương đối thấp so với giá thế giới. Trong khi đó, doanh nghiệp cũng không có động lực xuất khẩu ồ ạt vì họ xuất khẩu được thì cũng chỉ thu được 560 USD/tấn, không khác gì bán trong nước. Đồng thời, nhà nước thu được thuế là 240 USD/tấn, số tiền này sẽ vào thẳng ngân sách.

Lợi ích lớn nhất của chính sách đánh thuế xuất khẩu gạo là doanh nghiệp xuất khẩu có thể tính toán được bài toán của họ một cách chủ động (khi đã biết thuế suất). Họ biết rõ khi giá gạo thế giới tăng, ví dụ từ 700 lên 800 rồi lên 1000 hay thậm chí 1500 USD, thì họ đều có quyền xuất bất cứ lúc nào, với khối lượng tùy ý, đồng thời, họ biết rõ giá bán họ thu được là bao nhiêu (bằng 70% giá thế giới – vẫn ví dụ thuế suất cố định là 30%). Họ sẽ tính toán, tích trữ chờ đợi hay bán ngay… và không bị lỡ nhịp các cơ hội trên thế giới, không quá thua thiệt với các đối thủ như Thái Lan. Tất nhiên, họ thu được ít tiền hơn các doanh nghiệp Thái Lan (nếu bên đó không bị đánh thuế xuất khẩu), nên họ không có động lực điên cuồng bán gạo đi. Như thế, vẫn có thể làm yên lòng nhà chức trách Việt Nam đang lo giá gạo trong nước tăng và nguồn cung bị thiếu. Như vậy, thị trường lúa gạo Việt Nam sẽ vẫn vận hành dưới sự hoạt động của doanh nghiệp và nông dân. Chứ lý do cho rằng Chính phủ cấm xuất khẩu gạo để đợi gạo lên mới cho doanh nghiệp xuất khẩu để kiếm lời, thì là một lý do hết sức vô lý vì đó không phải là trách nhiệm cũng như chức năng của Chính phủ. Và không ai có thể đảm bảo Chính phủ làm việc đó đủ khôn ngoan. Thêm nữa, điều đó khiến doanh nghiệp và nông dân hoàn toàn bị động, không phát huy được trí tuệ và tính chủ động của họ. Tức là kéo lùi sự phát triển của thị trường.

Các doanh nghiệp cần xây dựng vùng nguyên liệu gạo ổn định để hướng đến xuất khẩu. Ảnh: Trọng Bình

Với cách điều hành thị trường bằng “Thuế xuất khẩu”, sẽ không bao giờ lo thiếu gạo trong nước vì khi người dân có nhu cầu gạo tăng lên một chút, giá trong nước sẽ tăng và doanh nghiệp sẽ có động lực bán trong nước thay vì xuất khẩu. Tất nhiên, chính sách này chỉ áp dụng như một tình huống đặc biệt, khi Chính phủ không tự tin với an ninh lương thực trong nước, mà cầu gạo thế giới thì tăng ầm ầm. Có ý kiến cho rằng, “thuế” thì phải do Quốc hội thông qua, Chính phủ không có thẩm quyền áp dụng tùy ý. Nhưng, chúng ta cần coi đây là một tính huống đặc biệt và nếu không có khả năng pháp lý để thực hiện, thì Chính phủ có thể áp dụng tạm thời một loại “phí”, nhưng có chức năng giống hệt như “thuế”. Như thế vẫn bảo đảm đạt mục tiêu chính sách.

Trong khi Việt Nam đóng cửa xuất khẩu gạo, thì Thái Lan “tung hoành” giữa thị trường thế giới. Thời điểm này, Thái Lan không có bất cứ một động thái nào cấm hay ngừng xuất khẩu, vì vậy các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Thái Lan đã và đang tranh thủ thời cơ “một mình một chợ” để tăng lượng xuất khẩu với giá cao.

Theo tôi, chính sách lúc này nên là đánh “Thuế xuất khẩu” gạo. Mức thuế này sẽ tạo ra sự chênh lệch giá giữa gạo trong nước (phục vụ nhân dân và kho dự trữ quốc gia) và giá gạo thế giới (phục vụ các doanh nghiệp và nhà nước có nguồn thu)… Lợi ích lớn nhất của chính sách đánh thuế xuất khẩu gạo là doanh nghiệp xuất khẩu có thể tính toán được bài toán của họ một cách chủ động (khi đã biết thuế suất).

Chu Khôi (thực hiện)

Chủ đề:
Bạn đang xem danh mục: Thị Trường
Tin cập nhật
Sự kiện
Tam nông
  • Hội ND Nghệ An: Xây dựng tổ hội nghề nghiệp, hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu cây trồng

    Hướng tới hỗ trợ hội viên phát triển kinh tế hộ theo chuỗi giá trị, liên kết các lĩnh vực ngành nghề, thời gian qua, Hội Nông dân (ND) huyện Thanh Chương (Nghệ An) đã triển khai các giải pháp cụ thể để xây dựng chi hội ND, tổ hội ND nghề nghiệp. Đẩy mạnh […]

  • Thực hiện 3 có, 3 không để sản xuất, kinh doanh tiêu thụ nông sản, thực phẩm an toàn

    An toàn thực phẩm (ATTP) là nhiệm vụ hết sức cần thiết đối với toàn xã hội. Xác định được tính cấp thiết của vấn đề đó, giữa tháng 7.2020 Hội Nông dân tỉnh  Nghệ An đã phối hợp với UBND huyện Nghi Lộc phát động phong trào “Nông dân Nghệ An sản xuất, kinh […]

  • Đánh thức Đồng Chum

    Là xã vùng cao của huyện Đà Bắc, những năm qua, xã Đồng Chum đã khai thác tốt những tiềm năng, lợi thế của riêng mình để phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế rừng. Lợi thế từ rừng “vàng” Ông Lường Văn Thịnh – Chủ tịch UBND xã Đồng Chum cho biết: […]