16:24 - 14/11/2020

Vượt khó khăn, thách thức, tận dụng cơ hội đưa nông sản Việt vào thị trường EU

Trong thời gian qua, có thể thấy, vai trò và kết quả của hội nhập kinh tế quốc tế đã được thể hiện toàn diện trong các lĩnh vực đời sống kinh tế, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. Việt Nam là nước đang phát triển đầu tiên ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương có Hiệp định thương mại tự do với EU. Điều này vừa khẳng định vai trò vừa nâng cao vị thế địa – chính trị quan trọng của Việt Nam trong khu vực, cũng như trên trường quốc tế.

Lô trái cây xuất khẩu sang châu Âu theo hiệp định EVFTA được khởi hành ngày 17/9 tại Bến Tre. Ảnh: Như Huỳnh

Hiệp định Thương mại tự do giữa Liên minh châu Âu và Việt Nam (EVFTA) có mức cam kết cao nhất mà một đối tác dành cho Việt Nam trong số các FTA đã được ký kết (99% dòng thuế nhập khẩu giữa hai bên được xóa bỏ trong vòng 7 – 10 năm), đặc biệt đối với một số mặt hàng nông sản mà ta có thế mạnh sản xuất và xuất khẩu như gạo, thủy sản, cà phê, nhân điều, rau quả nhiệt đới, ca cao, dầu cọ, đồ gỗ…

Việc ký kết và thực thi Hiệp định EVFTA không chỉ mang đến cơ hội về tăng trưởng xuất khẩu mà còn giúp cho ngành nông nghiệp nước ta đẩy mạnh công tác tái cơ cấu hướng sâu vào vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua chất lượng sản phẩm, truy xuất nguồn gốc, quy cách đóng gói… góp phần đưa hàng hóa nông sản của Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng toàn cầu.

Hiện Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ 16 của EU, là đối tác thương mại lớn thứ 8 của EU trong châu Á và là đối tác thương mại lớn thứ hai của EU trong ASEAN. Đến nay, Việt Nam mới xếp thứ 10 trong số các nước xuất khẩu hàng hóa lớn nhất vào EU (sau Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nga, Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ Kỳ…). Trong khu vực ASEAN, Việt Nam là nước xuất khẩu hàng hóa lớn nhất sang EU và sẽ nhận được nhiều lợi ích từ Hiệp định EVFTA so với các Hiệp định thương mại khác đã tham gia. EU và Việt Nam là 2 thị trường bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau, do vậy, lợi ích này đặc biệt có ý nghĩa khi EU liên tục là 1 trong 2 thị trường xuất khẩu lớn nhất của ta hiện nay.

Với Hiệp định EVFTA, sau khi triển khai thực thi, hàng hóa nông sản xuất khẩu của ta sẽ có thể tiếp cận được một thị trường đầy tiềm năng với dân số hơn 500 triệu người và GDP đạt 15.000 tỷ USD. EU là thị trường có kim ngạch nhập khẩu đứng thứ 2 thế giới (chiếm 14,9% tổng nhập khẩu toàn cầu). Mặc dù là thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 của nước ta, nhưng ta mới chiếm thị phần khoảng 2% trong tổng nhập khẩu của EU, như vậy cơ hội để tăng trưởng xuất khẩu, đặc biệt là đối với nông sản còn rất lớn khi gần như thuế quan đã được giảm về 0% khi Hiệp định có hiệu lực.

Những khó khăn, thách thức mới ngành Nông nghiệp gặp phải khi bước vào “sân chơi” lớn

Trong 10 năm qua, xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang EU tăng trưởng đều (nhưng không cao so với Hoa Kỳ và Trung Quốc), đạt bình quân 6,7%/năm. Việt Nam liên tục xuất siêu nông sản sang thị trường này, đặc biệt năm 2019 xuất siêu 2,89 tỷ USD. Nhập khẩu nông sản hiện đang chiếm 8,4% trong tổng nhập khẩu của EU, do vậy, ta vẫn còn dư địa tăng trưởng xuất khẩu nông sản để phục vụ nhu cầu tiêu thụ rất lớn của thị trường này, góp phần phát triển đầu ra tiêu thụ hàng hóa cho doanh nghiệp và người nông dân.

Ngoài việc tiếp tục duy trì và phát triển tại các thị trường xuất khẩu truyền thống, Hiệp định EVFTA còn tạo cơ hội cho nông sản Việt giảm phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc và Đông Nam Á, thúc đẩy tạo các mối quan hệ mới và thiết lập mạng lưới mới, tham gia chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu, đặc biệt là cơ hội hợp tác về vốn, chuyển giao công nghệ chế biến nông sản và phương thức quản lý hiện đại, hiệu quả hơn…

Bên cạnh đó, có thể nhận thấy, ngoài các lợi thế về thuế quan và quy tắc xuất xứ, Hiệp định EVFTA đã và đang là đòn bẩy, thúc đẩy tái cơ cấu nông nghiệp toàn diện và đồng bộ hơn, đặc biệt là việc nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp, gắn liền với yếu tố “xanh, sạch”, đảm bảo giá trị lao động, kèm theo các chứng chỉ về khai thác, nuôi trồng theo đúng chỉ dẫn địa lý. Đồng thời, Hiệp định sẽ thúc đẩy liên kết sản xuất giữa nông dân, ngư dân, hợp tác xã, doanh nghiệp trong một chuỗi giá trị, gắn với “tín hiệu thực” của thị trường EU nói riêng cũng như các thị trường phát triển nói chung, góp phần nâng tầm hình ảnh của nông sản Việt.

Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội, tiềm năng từ Hiệp định EVFTA, ngành Nông nghiệp nước ta và từng chủ thể liên quan như người nông dân, ngư dân, doanh nghiệp cũng như các cơ quan quản lý nhà nước sẽ bước vào “sân chơi” lớn, cũng phải chấp nhận đương đầu với các khó khăn, thách thức mới:

Trái cây là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam tại thị trường EU. Ảnh: Như Huỳnh

Thứ nhất, rào cản kỹ thuật đối với hàng hóa nông sản nhập khẩu từ phía EU rất chặt chẽ. Cho đến nay, EU vẫn là thị trường có yêu cầu về hàng rào kỹ thuật rất cao, đặc biệt là về kiểm dịch động, thực vật; quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm; chống khai thác bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU); khai báo nguồn gốc gỗ hợp pháp… Việc thực thi Hiệp định EVFTA, đối với người nông dân cũng như doanh nghiệp Việt Nam vẫn chỉ là sự tiếp nối trong quá trình tuân thủ các yêu cầu này từ phía EU.

Thứ hai, dù Hiệp định EVFTA có ưu đãi với những quy định SPS linh hoạt nhưng một số ngành hàng nông sản của nước ta như hồ tiêu, chè, rau quả…, mặc dù chất lượng sản phẩm trong thời gian qua đã được cải thiện, tuy nhiên trước hàng rào kỹ thuật về tiêu chuẩn, kiểm dịch, vệ sinh an toàn thực phẩm của EU và để phát triển xuất khẩu một cách bền vững, ngành Nông nghiệp của Việt Nam cần phải tổ chức lại sản xuất để đảm bảo nguồn hàng có chất lượng, giá trị gia tăng cao, tăng cường hơn nữa công tác quản lý, giám sát từ khâu sản xuất đến chế biến, bảo quản sau thu hoạch, truy xuất nguồn gốc, vệ sinh an toàn thực phẩm. Đây chính là vấn đề “cốt lõi”, “căn cơ” mà ta cần chú trọng quan tâm giải quyết trong bối cảnh nền kinh tế nông nghiệp nước ta dựa trên 10,6 triệu hộ nông dân với quy mô nhỏ lẻ, phân tán nên hoạt động nuôi, trồng diễn ra tự phát, manh mún và theo phong trào, không ký kết đầu ra trước khi sản xuất, không theo “tín hiệu thực” của thị trường, dẫn đến vượt quy hoạch, không kiểm soát được “chân hàng” tốt dành cho xuất khẩu.

Thứ ba, Việt Nam đã tham gia nhiều FTA, thị trường nông sản được mở rộng. Có thể khẳng định, ta đã làm tốt công tác đàm phán để cắt giảm thuế quan nhập khẩu vào các nước tạo điều kiện tối đa cho hàng hóa của ta tiếp cận các thị trường, tuy nhiên công tác đàm phán kỹ thuật để được công nhận về quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm vẫn còn hạn chế.

Thứ tư, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang tác động đến nhiều ngành sản xuất, xuất khẩu, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp, nếu như ta không đáp ứng được sự phát triển này sẽ dẫn tới sự “tụt hậu” về công nghệ, kỹ thuật chế biến nhóm hàng nông sản, kéo theo sự mất cạnh tranh so với đối thủ khác, đặc biệt là tại các thị trường có “yêu cầu cao” như EU.

Thứ năm, khi yếu tố thuế quan không còn là vấn đề thì chất lượng sản phẩm do người nông dân sản xuất ra và “nội lực” cạnh tranh của doanh nghiệp lại là yếu tố tiên quyết trong việc phát triển xuất khẩu nông sản sang EU, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập hiện nay. Các khâu sản xuất, thu gom, chế biến, phân phối, tiêu thụ được đặt trong một “chuỗi giá trị” với doanh nghiệp được coi là yếu tố hạt nhân, then chốt thì mới giải quyết được tận gốc vấn đề.

Triển khai các giải pháp hỗ trợ

Để hỗ trợ doanh nghiệp thực thi hiệu quả Hiệp định EVFTA, khắc phục các khó khăn, thách thức như đã nêu trên, góp phần phát triển đầu ra tiêu thụ hàng hóa cho doanh nghiệp và người nông dân, theo chức năng, nhiệm vụ được giao, Bộ Công thương đã và đang chủ động triển khai các giải pháp như nội luật hóa cam kết, xúc tiến thương mại, phòng vệ thương mại, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao năng lực cạnh tranh, tuyên truyền phổ biến. Cụ thể:

Về công tác nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển nguồn nhân lực: (i) Xây dựng kịch bản khai thác, phát triển thị trường, nghiên cứu, định hướng thiết lập các kênh phân phối hàng hóa của Việt Nam trên thị trường các nước thành viên EVFTA đối với các mặt hàng xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam; (ii) Nghiên cứu, xây dựng tài liệu hướng dẫn doanh nghiệp xuất khẩu vào thị trường EU cho các nhóm hàng trọng điểm mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh; (iii) Chú trọng truyền thông, quảng bá hình ảnh thương hiệu sản phẩm Việt Nam hướng tới thị trường EU, và chương trình quảng bá chỉ dẫn địa lý tại thị trường EU trong khuôn khổ Chương trình thương hiệu Quốc gia; (iv) Hỗ trợ doanh nghiệp, tổ chức xúc tiến thương mại (XTTM) tham gia các sự kiện XTTM quy mô lớn tại thị trường EU trong khuôn khổ Chương trình cấp quốc gia về XTTM; (v) Hỗ trợ kỹ thuật và cung cấp các giải pháp phát triển bền vững cho doanh nghiệp hướng tới tiêu chí xanh nhằm tiếp cận thị trường, định vị sản phẩm trên thị trường quốc tế, phù hợp với xu hướng tiêu dùng thân thiện với môi trường của người tiêu dùng tại các nước EU; (vi) Hỗ trợ hướng dẫn doanh nghiệp Việt Nam cách xử lý, thực hiện và rà soát về mặt kỹ thuật khi có yêu cầu về kiểm tra, xác minh xuất xứ từ phía EU trong trường hợp cần thiết để bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp Việt Nam; (vii) Tiếp tục nâng cấp hạ tầng kỹ thuật phục vụ triển khai C/O nhằm tạo thuận lợi cho quá trình tận dụng ưu đãi của Hiệp định EVFTA.

Về công tác tuyên truyền, phổ biến về Hiệp định EVFTA: (i) Tổ chức các hội thảo giới thiệu, khóa tập huấn chuyên sâu về Hiệp định EVFTA tới các đối tượng thụ hưởng khác nhau đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp tại các cụm tỉnh, thành khác nhau trên cả nước; (ii) Tổ chức các hội thảo/diễn đàn doanh nghiệp tại EU để giới thiệu, phổ biến về Hiệp định và các cơ hội tiếp cận thị trường, cũng như kết nối xúc tiến thương mại và thu hút đầu tư của doanh nghiệp EU vào Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến nông sản nhằm tạo nguồn hàng có chất lượng xuất khẩu ngược lại EU cũng như sang các thị trường khác; (iii) Xây dựng cổng thông tin điện tử về FTA trong đó bao gồm Hiệp định EVFTA và CPTPP để doanh nghiệp có thể dễ dàng tra cứu một cách thuận tiện và nhanh chóng nhất cam kết mở cửa thị trường của các đối tác FTA dành cho hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam; (iv) Đổi mới phương thức truyền thông, đào tạo về Hiệp định thông qua thiết kế, tổ chức các chương trình tập huấn trực tuyến cho doanh nghiệp; (v) Xây dựng và duy trì chương trình truyền hình/truyền thanh chuyên sâu về Hiệp định EVFTA cho cộng đồng doanh nghiệp và người dân; (vi) Cung cấp thông tin trên cổng liên kết thông tin xúc tiến thương mại, và chuyên trang thương hiệu thực phẩm và nông sản Việt Nam (bao gồm cả nội dung tiếng Anh và tiếng Việt) nhằm đẩy mạnh xuất khẩu sang các nước đối tác EU.

Về công tác xúc tiến thương mại: (i) Tăng cường và đổi mới các hoạt động XTTM hỗ trợ doanh nghiệp nông nghiệp có tiềm năng xuất khẩu; (ii) Thực hiện tốt công tác định hướng và có chương trình hỗ trợ sản xuất sản phẩm có chất lượng, sẵn sàng tham gia thị trường; (iii) Chỉ đạo hoạt động xúc tiến thương mại mang tính liên kết vùng, miền nhằm quảng bá và phát triển thị trường cho sản phẩm nông nghiệp có tiềm năng xuất khẩu; (iv) Tăng cường liên kết hoạt động XTTM giữa các tổ chức XTTM, tích cực chia sẻ thông tin nhằm tận dụng hiệu quả các nguồn lực, tránh lãng phí và triển khai các hoạt động trùng lắp, cạnh tranh lẫn nhau; (v) Tổ chức các sự kiện xúc tiến thương mại như hội nghị/hội thảo/tập huấn nâng cao năng lực quản trị chất lượng trong khâu thiết kế sản phẩm với mẫu mã và kiểu dáng phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng tại một số thị trường trọng điểm của EU; triển khai chiến lược truyền thông trong 3-5 năm quảng bá tiềm năng ngành chế biến nông sản Việt Nam, chất lượng và thương hiệu nông sản của Việt Nam thông qua các hội chợ triển lãm, báo, tạp chí, kênh thông tin điện tử chuyên ngành tại các nước EU; (vi) Thử nghiệm, áp dụng thêm các công cụ mới để kết nối khách hàng, đối tác như các phần mềm thiết kế sản phẩm ba chiều (3D), hội chợ online 3D, tương tác trực tuyến (virtual trade fairs)… để bắt kịp với xu hướng phát triển của ngành và hoạt động XTTM, marketing đặc thù cho ngành hàng nông nghiệp của quốc tế; (vii) Trực tiếp hỗ trợ doanh nghiệp tham gia hoặc hướng dẫn các hiệp hội ngành hàng, tổ chức XTTM lựa chọn các hội chợ, triển lãm, sự kiện XTTM chuyên ngành lớn, có uy tín tại thị trường châu Âu để xây dựng đề án XTTM quốc gia, tổ chức cho doanh nghiệp tham gia. Việc tham dự những hội chợ có uy tín, lớn hàng đầu thế giới ở châu Âu liên tục, hàng năm giúp các doanh nghiệp đạt kết quả ngay tại sự kiện như các hội chợ triển lãm quốc tế chuyên ngành nông thủy sản, rau quả, thực phẩm chế biến tại Pháp, Đức, Bỉ (Triển lãm thủy sản toàn cầu Brusels – Bỉ, Hội chợ Rau quả Logistica Berlin – Đức, Hội chợ quốc tế công nghiệp thực phẩm Anuga – Đức, Hội chợ Quốc tế Công nghiệp thực phẩm SIAL Paris – Pháp…). Bên cạnh đó, sự xuất hiện thường xuyên, liên tục của doanh nghiệp Việt Nam tại các hội chợ này góp phần tạo hiệu ứng lan tỏa, tích cực, dần xây dựng uy tín, hình ảnh sản phẩm Việt Nam tại thị trường EU nói riêng và thị trường thế giới nói chung.
Về phía doanh nghiệp, cần phải lưu ý thực hiện đồng bộ các giải pháp, bao gồm:

Thủy sản cũng là mặt hàng có nhiều cơ hội để xuất khẩu sang châu Âu. Ảnh minh họa

Thứ nhất, chủ động tìm hiểu Hiệp định EVFTA thông qua việc tham gia các chương trình phổ biến, hội nghị, hội thảo, khóa tập huấn về EVFTA do Bộ Công thương và các đơn vị phối hợp tổ chức; tra cứu tài liệu, thông tin cập nhật về Hiệp định, cơ hội thị trường EU tại trang thông tin điện tử về EVFTA của Bộ Công thương tại địa chỉ evfta.gov.vn; liên hệ trực tiếp Bộ Công thương nếu có thắc mắc trong quá trình tận dụng, thực thi Hiệp định. Doanh nghiệp cần lưu ý, trong vòng 7 năm đầu tiên, hàng hóa Việt Nam khi xuất khẩu sang EU sẽ được lựa chọn thuế suất ưu đãi nhất trong số các cơ chế ưu đãi thuế quan mà EU dành cho Việt Nam (EVFTA, GSP, WTO). Tuy nhiên, doanh nghiệp cần lưu ý đến việc đáp ứng các quy định về quy tắc xuất xứ theo từng cơ chế.

Thứ hai, chủ động chuẩn bị năng lực, nguồn hàng, nâng cao sức cạnh tranh thông qua việc xây dựng kế hoạch dài hạn, bài bản, nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh thông qua ứng dụng khoa học và công nghệ nhằm gia tăng giá trị sản phẩm nông sản, học tập, áp dụng các mô hình thành công đã có để có sự chuẩn bị tốt nhất khi phải đối mặt với áp lực cạnh tranh ngay trên “sân nhà”.

Thứ ba, chủ động hợp tác, liên kết để nâng cao sức mạnh, tạo chuỗi cung ứng thông qua thúc đẩy liên kết sản xuất giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người nông dân, hộ sản xuất, từ đó hoàn thiện “chuỗi giá trị” từ sản xuất, canh tác, chế biến và phân phối tới người tiêu dùng nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm, đáp ứng các yêu cầu chặt chẽ của Hiệp định và tiêu chuẩn cao của EU đối với các mặt hàng nông nghiệp. Bên cạnh đó, phải nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm thông qua chất lượng và giá cả, đồng thời xây dựng và bảo vệ được thương hiệu để thúc đẩy xuất khẩu bền vững, duy trì và đa dạng hóa được thị trường.

Thứ tư, nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, chú ý đến vấn đề phát triển bền vững của Hiệp định, cụ thể cần lưu ý đến các nguyên tắc, tiêu chuẩn về lao động (ví dụ như quy định về chấm dứt hình thức lao động cưỡng bức, không được sử dụng lao động trẻ em, không được phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp tại nơi làm việc …), và các quy định, nguyên tắc về bảo vệ môi trường (ví dụ như yêu cầu về chống biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý rừng và lâm sản, bảo vệ tài nguyên sinh vật biển và thủy sản) do đây là những nội dung mà phía EU đặc biệt quan tâm.

Thứ năm, cần chủ động và chuẩn bị các biện pháp đối phó với các vụ kiện về phòng vệ thương mại thông qua việc theo dõi tình hình thị trường, giá cả, các điều kiện trong giao thương, nâng cao năng lực.

Nguyễn Thị Mai Linh – Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương)

Chủ đề:
Bạn đang xem danh mục: Bàn tròn
Tin cập nhật
  • Thủ tướng ban hành Công điện khẩn trước diễn biến mới của dịch COVID-19

    Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Công điện số 1699/CĐ-TTg ngày 2/12/2020 về tăng cường thực hiện phòng, chống dịch bệnh COVID-19. Theo đó, Công điện nêu rõ, dịch bệnh COVID-19 trên thế giới vẫn đang diễn biến phức tạp, bùng phát trở lại trong mùa đông tại nhiều quốc gia với số trường […]

  • Thủ tướng nêu sáng kiến: “Đưa hàng từ nông thôn ra thành thị”

    Thủ tướng đưa ra sáng kiến đưa hàng từ nông thôn lên thành thị, thực hiện kích cầu thị trường 100 triệu dân. Hôm nay (2/12), Chính phủ dành cả ngày họp phiên thường kỳ tháng 11. Kết luận phiên họp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết, năm nay, kinh tế vẫn có khả […]

  • [Infographics] Những điều cần biết về căn bệnh nguy hiểm Whitmore

    Các cơn mưa lũ kéo dài khiến vệ sinh môi trường tại các vùng dân cư ở miền Trung bị ô nhiễm. Đây là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn gây bệnh Whitmore sinh sôi, phát triển. Thời gian gần đây, các tỉnh miền Trung ghi nhận một số trường hợp mắc bệnh Whitmore […]

Sự kiện
Tam nông
  • Tổng kết, đánh giá mô hình bảo vệ môi trường trong xây dựng nông thôn mới theo hướng xã hội hóa

    Chiều ngày 30/11, tại Trung tâm Văn hóa và Hội nghị tỉnh Sóc Trăng, Bộ NN&PTNT phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND tỉnh Sóc Trăng tổ chức Hội nghị toàn quốc tổng kết, đánh giá các mô hình bảo vệ môi trường trong xây dựng nông thôn mới theo hướng xã […]

  • Cần những chính sách đặc thù dựa trên nhu cầu của dân

    Chính sách giảm nghèo trong giai đoạn tới sẽ có những điều chỉnh theo hướng tập trung đầu tư cho con người, đặc biệt là người nghèo. Các phương thức hỗ trợ sẽ được đổi mới theo hướng thiết thực, hiệu quả phù hợp với đặc thù từng vùng và từng đối tượng. Theo Báo […]

  • Điểm tựa để nông dân vươn lên làm giàu

    Phong trào thi đua “Nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững” đã tạo động lực mạnh mẽ đối với hội viên, nông dân trong phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, đặc biệt bảo đảm an ninh lương thực Quốc gia. Từ […]