• Trang chủ
  • Bàn tròn
  • Từ thực tiễn, gợi mở tư duy “đột phá” dạy nghề nông nghiệp
08:45 - 02/01/2021

Từ thực tiễn, gợi mở tư duy “đột phá” dạy nghề nông nghiệp

Ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất nông nghiệp, trong truy xuất nguồn gốc và quảng bá nông sản qua mô hình kinh doanh “Cây xoài nhà tôi”, “Cây cam vườn tôi” đã giúp nông dân tiếp cận hiệu quả với nhiều phân khúc khách hàng mới, giúp gia tăng giá trị cây ăn trái. Trong xây dựng nông thôn mới, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phê duyệt thực hiện đề tài “Làng thông minh từ mô hình Hội quán nông dân tại Đồng Tháp” – Mô hình này, gợi mở cho chúng ta cần có sự “đột phá” dạy nghề nông nghiệp trong tương lai…?

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đến thăm và làm việc tại một Hội quán của Đồng Tháp tháng 4/2018. Ảnh: TTXVN

Có việc làm nhưng nhiều thách thức

Hơn 10 năm thực hiện Đề án 1956, công tác đào tạo nghề lao động nông thôn đã đạt được những kết quả tích cực. Nhiều địa phương đã huy động được sự tham gia của cả hệ thống chính trị, các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các nguồn lực xã hội đầu tư cho công tác đào tạo nghề và hỗ trợ, tạo điều kiện giúp người sau học nghề tổ chức sản xuất, kinh doanh. Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn được phân cấp trực tiếp về các huyện, thị xã, thành phố đã tạo điều kiện cho các địa phương trong việc lựa chọn ngành nghề đào tạo, chủ động phát triển ngành nghề phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương, từng vùng, đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực phục vụ sản xuất, kinh doanh và dịch vụ góp phần tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo bền vững. Về phía người học cũng nhận thức hơn về nghề nghiệp, từ chỗ học theo phong trào, học để nhận tiền hỗ trợ, học chỉ để biết, chuyển sang học nghề để tìm việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp; học nghề để nắm vững khoa học kỹ thuật, từng bước thay đổi thói quen canh tác theo hướng tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật để tăng năng suất, chất lượng hàng hóa và dịch vụ, nâng cao nguồn thu nhập.

Hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn ngoài các cơ sở đào tạo nghề, các địa phương cũng đã thu hút được các nhà khoa học của các viện nghiên cứu, trường (trung cấp, cao đẳng, đại học), lao động kỹ thuật từ các doanh nghiệp, nghệ nhân, người có tay nghề cao trong các làng nghề tham gia giảng dạy. Một số doanh nghiệp, hợp tác xã bước đầu đã quan tâm, hợp tác với các cơ sở đào tạo để xây dựng giáo trình, hỗ trợ địa bàn thực tập, tuyển dụng học viên sau khóa học.

Hà Nội là một điển hình: Với phương châm lấy người học làm trung tâm, TP. Hà Nội đã linh hoạt, chủ động triển khai đề án. Nếu như ở giai đoạn đầu, thành phố ban hành danh mục đào tạo 49 nghề, gồm 37 nghề phi nông nghiệp; 12 nghề nông nghiệp, thì từ năm 2017 đến nay, Hà Nội chỉ tập trung đào tạo 33 nghề, gồm 16 nghề nông nghiệp, 17 nghề phi nông nghiệp. Việc lựa chọn các nghề đào tạo căn cứ nguyện vọng của người lao động, bám sát nhu cầu của địa phương, không chạy theo số lượng đã mang lại hiệu quả vững chắc. Ở xã Tản Hồng (huyện Ba Vì) ông Phùng Văn Liểu, Bí thư Đảng ủy xã cho biết: Mặc dù xã có nghề mộc, nhưng phần lớn lao động chưa được đào tạo bài bản, rất khó mở rộng quy mô sản xuất. Trong khi đó, nhu cầu tìm kiếm việc làm của hơn 6.000 lao động trên tổng số 14 nghìn nhân khẩu trong xã rất lớn. Vì thế, xã chủ động đưa lao động đi học nghề mộc và may, đồng thời mạnh dạn “kích cầu” bằng cách khuyến khích mở các xưởng may mặc và xưởng mộc dân dụng cho hơn 100 lao động hoàn thành đào tạo nghề. Đến nay, 40 người trong số này đã mở được xưởng may riêng. Nghề mộc phát triển mạnh với hàng chục xưởng quy mô lớn, không chỉ các lao động trong xã có việc làm ổn định, thu nhập khá, mà còn tạo thêm nhiều việc làm cho lao động trong khu vực.

Theo thông tin của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, tính đến hết năm 2019, đã có trên 9,6 triệu lao động nông thôn được học nghề các trình độ; trong đó, số lao động nông thôn được hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng là 5,59 triệu người, đạt 87% mục tiêu của Đề án (11,03 triệu người).. Sau khi học nghề, số người có việc làm mới hoặc tiếp tục làm nghề cũ nhưng có năng suất, thu nhập cao hơn đạt trên 80%. Lao động nữ nông thôn được hỗ trợ học nghề chiếm 59,4%, vượt mục tiêu đề ra. Gần 65% lao động nông thôn học nghề phi nông nghiệp để chuyển nghề; trên 35% lao động nông thôn được học nghề nông nghiệp để tiếp tục làm nghề nông nghiệp có năng suất, thu nhập cao hơn.

Tuy nhiên, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn cũng còn rất nhiều khó khăn, hạn chế. Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn chưa được coi trọng đúng mức; nhiều bộ, ngành, địa phương, cán bộ và xã hội nhận thức chưa đầy đủ về đào tạo nghề cho lao động nông thôn, coi đào tạo nghề chỉ là cứu cánh, có tính thời điểm, không phải là vấn đề quan tâm thường xuyên, liên tục và có hệ thống; hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn không đồng đều giữa các vùng trong cả nước. Công tác dự báo nhu cầu đào tạo nghề, hỗ trợ việc làm và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân chưa tốt.

Thêm vào đó, thời gian của các lớp đào tạo nghề thường ngắn, chỉ khoảng 3 tháng nên học viên mới sơ bộ nắm được cách sử dụng công cụ và kiến thức cơ bản, tư duy và kĩ năng chưa đủ để xin việc hoặc tự tạo việc làm riêng. Thời gian học ngắn, ngành nghề không phù hợp nhu cầu, nhất là với những ngành nghề kỹ thuật cao như hàn, lái máy… do bị hạn chế về trang thiết bị, học viên không có điều kiện thực hành nên tay nghề yếu đã khiến lao động nhiều địa phương không tìm được việc làm sau đào tạo.

Việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị của các cơ sở dạy nghề cũng chưa phù hợp với chương trình, đối tượng đào tạo của Đề án 1956. Hầu hết các cơ sở đào tạo nghề tập trung đầu tư trang thiết bị phục vụ dạy các nghề phi nông nghiệp, trong khi các nhóm nghề nông nghiệp chiếm từ 50 đến 55% tổng số lao động đã được đào tạo; các nhóm nghề về công nghiệp, dịch vụ chỉ chiếm 27%. Không những vậy, đội ngũ giáo viên đảm nhiệm dạy nghề nông nghiệp không phải là những người công tác cố định tại cơ sở, ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng đào tạo.

Bên cạnh đó, công tác phối hợp đào tạo gắn với giải quyết việc làm giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp chưa được thực hiện một cách chặt chẽ. Một số chủ doanh nghiệp thậm chí còn từ chối việc nhận học viên các lớp đào tạo nghề đến thực hành, thực tập tại doanh nghiệp vì sợ ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng sản phẩm. Trong khi một số doanh nghiệp lại chủ yếu tuyển lao động phổ thông, thu hút lao động đi làm ngay mà không cần qua đào tạo dẫn đến tình trạng nhiều lao động nông thôn chưa quan tâm tới việc đi học nghề một cách bài bản.

Ngoài ra, sự phối hợp giữa các cơ quan từ trung ương đến địa phương chưa nhuần nhuyễn. Tại nhiều nơi, việc đề xuất của ngành Lao động Thương binh và Xã hội đối với việc đào tạo nghề với Bộ, Sở NN&PTNT vẫn chưa được tổng hợp đầy đủ. Điều này dẫn đến việc phân bổ ngân sách và kinh phí không đạt yêu cầu. Thậm chí tại nhiều địa phương, Sở Lao động Thương binh và Xã hội còn không được tham gia vào việc xây dựng kế hoạch nên không biết phân bổ kinh phí cho vấn đề đào tạo nghề.

Cùng với các nguyên nhân chủ quan, các nguyên nhân khách quan cũng khiến kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông thôn gặp khó. Theo kế hoạch năm 2020, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đặt chỉ tiêu đào tạo 1,68 triệu lao động nông thôn được học sơ cấp dưới 3 tháng, trong đó số lao động nông thôn được hỗ trợ đào tạo chiếm khoảng 1 triệu. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, qua 6 tháng đầu năm 2020, cả nước chỉ đào tạo được trên 700.000 lao động nông thôn trình độ sơ cấp và trình độ nghề nghiệp khác…

Hoạt động dạy nghề cần đổi mới nhằm phát huy nguồn lực lao động nông thôn.

Thực tiễn gợi mở tư duy “đột phá” dạy nghề trong nông nghiệp

Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) khi được 15 thành viên thực thi, sẽ tạo nên một thị trường lớn với quy mô 2,2 tỉ người tiêu dùng, chiếm khoảng 30% dân số thế giới, với GDP khoảng 27 nghìn tỉ USD, chiếm khoảng 30% GDP toàn cầu và sẽ trở thành khu vực thương mại tự do lớn nhất trên thế giới. Đây cũng là vùng khai thác mới để đổi mới hoạt động dạy nghề lao động nông thôn nhằm tạo ra sản phẩm mới, đặc biệt là nông sản nhiệt đới, thực phẩm chế biến chất lượng cao, mở rộng quy mô giao thương. Tuy nhiên, nhiều quốc gia có cùng hoàn cảnh tương đồng với Việt Nam nên sự cạnh tranh gay gắt hơn là điều chắc chắn, bởi vì Việt Nam xuất khẩu sang họ, họ cũng xuất khẩu sang Việt Nam; Việt Nam được hưởng lợi thì họ cũng được hưởng lợi. Có điều nhiều ngành nghề của Việt Nam “đụng” với nhiều ngành nghề cùng chủng loại của họ, trong khi trình độ kỹ thuật, chất lượng, mẫu mã, thương hiệu của họ có bề dày hơn Việt Nam. Có nhiều ngành nghề, hàng hóa trùng với với ngành nghề hàng hóa của Việt Nam, như: Rau, củ, quả; thịt, trứng, thủy sản; đồ dùng gia dụng, trang trí nội thất; sắt thép; đồ điện gia dụng; đồ điện tử… Trong đó có cả gạo, nên vậy, hoạt động dạy nghề lao động nông thôn cần làm thế nào để hiện thực hóa cơ hội đặc biệt từ RCEP?

Tỉnh Đồng Tháp đi đầu trong ứng dụng công nghệ số trong nông nghiệp, tuy còn ở phạm vi hẹp, nhưng đã gợi mở – gợi mở “Giải pháp chuyển đổi số thúc đẩy phát triển nông nghiệp nông thôn”. Ông Phạm Thiện Nghĩa, Phó Chủ tịch UBND tỉnh cho rằng, với việc thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp đạt được nhiều tín hiệu tích cực trong thời gian qua, nông nghiệp sẽ là lĩnh vực đầu tiên mà địa phương ưu tiên thực hiện chuyển đổi số. Nối tiếp lĩnh vực nông nghiệp, tỉnh sẽ tiếp tục thực hiện chuyển đổi sang chính quyền số và nền kinh tế số.

Ông Võ Thành Ngoan – Phó Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Đồng Tháp cho biết, thời gian qua, tỉnh đã ứng dụng một số công nghệ thông minh trong sản xuất nông nghiệp. Qua đó giúp giảm công lao động, chi phí sản xuất lúa, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, có đầu ra ổn định, tăng thu nhập cho người dân, tạo được vùng nguyên liệu có chất lượng. Lãnh đạo các địa phương cùng nông dân ở các Hội quán được các doanh nghiệp công nghệ giới thiệu một số ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp như: sử dụng máy bay không người lái để phun xịt thuốc và kiểm soát dịch hại trên cây trồng; áp dụng hệ thống tưới thông minh trong sản xuất nông nghiệp; áp dụng và khai thác hiệu quả sàn thương mại điện tử đối với các hộ gia đình; áp dụng công nghệ đóng gói khí cải tiến, màng và khay đa lớp cản khí cao nhằm giúp tăng thời gian bảo quản sản phẩm nông nghiệp, máy đóng gói với khí cải tiến, máy in truy xuất nguồn gốc, thiết bị thông minh kết hợp với trí tuệ nhân tạo trong sản xuất tôm…

Lớp đào tạo nghề điện dân dụng năm 2020 tại xã Thanh Sơn, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh. Ảnh: Hằng Ngần.

Trên lĩnh vực chăn nuôi, Đồng Tháp đã triển khai ứng dụng phần mềm báo cáo dịch bệnh trực tuyến VAHIS trong báo cáo dịch bệnh trên đàn vật nuôi; ứng dụng phần mềm Quantum GIS trong phân tích, đánh giá tình hình dịch bệnh trên đàn vật nuôi, xây dựng bản đồ dịch tễ làm cơ sở để tham mưu các biện pháp phòng, chống dịch bệnh trên toàn tỉnh. Thực hiện chương trình nâng cao chất lượng con giống cá tra, từ năm 2016 đến nay, toàn tỉnh có 13 cơ sở sản xuất giống cá tra tiếp nhận đàn cá tra hậu bị cải thiện di truyền từ Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 2 với số lượng 21.610 con có gắn (chip) quản lý. Đến nay đàn cá tra này đã sản xuất gần 30 tỷ cá bột cung cấp ra thị trường. Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc quảng bá nông sản qua mô hình kinh doanh “Cây xoài nhà tôi”, “Cây cam vườn tôi” đã giúp nông dân tiếp cận hiệu quả với nhiều phân khúc khách hàng mới, giúp gia tăng giá trị cây ăn trái. Trong xây dựng nông thôn mới, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phê duyệt thực hiện đề tài “Làng thông minh từ mô hình Hội quán nông dân tại Đồng Tháp” triển khai tại xã Tân Thuận Tây, TP. Cao Lãnh…

Những kết quả bước đầu của việc chuyển đổi số trong nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp tuy chưa nhiều, việc thích ứng với kinh tế số để vận dụng trong thực hiện tái cơ cấu ngành Nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới hiện nay vẫn còn là thách thức – Điều này, gợi mở cho nông nghiệp Việt Nam trong hội nhập, đòi hỏi một khát vọng “đột phá” về chiến lược đào tạo lại và đào tạo nâng cao kiến thức phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế với những thay đổi của công nghệ và chuyển đổi số cho lao động nông nghiệp, nông thôn ngay từ bây giờ. Trong đó, trọng yếu là cho phát triển nông nghiệp công nghệ cao theo hướng chú trọng nông nghiệp thông minh, sản xuất an toàn, truy xuất nguồn gốc, tăng tỷ trọng của nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh trong nền kinh tế; ứng dụng chuyển đổi số trong việc xây dựng hệ thống dữ liệu ngành Nông nghiệp nhằm lưu trữ, phục vụ cho công tác quản lý nhà nước và nhu cầu khai thác của doanh nghiệp; thúc đẩy cung cấp thông tin về môi trường, thời tiết, chất lượng đất đai để nông dân nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng, hỗ trợ chia sẻ các thiết bị nông nghiệp qua các nền tảng số…

Hầu hết các cơ sở đào tạo nghề tập trung đầu tư trang thiết bị phục vụ dạy các nghề phi nông nghiệp, trong khi các nhóm nghề nông nghiệp chiếm từ 50 đến 55% tổng số lao động đã được đào tạo; các nhóm nghề về công nghiệp, dịch vụ chỉ chiếm 27%. Không những vậy, đội ngũ giáo viên đảm nhiệm dạy nghề nông nghiệp không phải là những người công tác cố định tại cơ sở, ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng đào tạo.

Hoàng Trọng Thủy

Chủ đề:
Bạn đang xem danh mục: Bàn tròn
Tin cập nhật
Sự kiện
Tam nông
  • Thanh Hóa: Ngao chết trắng bãi, người nuôi xót xa

    Những ngày qua, tại khu vực bãi bồi sông Yên trên địa bàn phường Hải Châu và Hải Ninh (Thị xã Nghi Sơn, Thanh Hóa) nhiều hộ dân bần thần trước cảnh ngao chết trắng hàng loạt, vốn liếng cứ thế trôi theo nước.

  • Tạo thiết bị leo cây cho dân xứ dừa

    Anh Nguyễn Văn Hưng (SN 1987) ở ấp Thới Sơn, xã Bình Hòa, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai là chủ xưởng gia công chế tạo dụng cụ leo dừa đã giúp ích rất lớn cho nhiều người trồng dừa tại các địa phương có thể chăm sóc, thu hoạch dừa an toàn và hiệu […]

  • Những nông dân thu tiền tỷ nhờ mạnh dạn chuyển đổi

    Xã Ea Sol (huyện Ea H’leo, tỉnh Đăk Lăk) vốn có thế mạnh về phát triển cây cà phê và hồ tiêu. Tuy vậy những năm gần đây cà phê và hồ tiêu rớt giá, dẫn đến giảm thu nhập, người dân đã mạnh dạn chuyển đổi sang cây trồng, vật nuôi khác. Nhờ đó, […]