10:01 - 18/04/2020

Tìm cơ hội trong thách thức cho nông sản Việt

Bước sang năm 2020, ngành Nông lâm thủy sản (NTLS) tiếp tục đối mặt với các thách thức lớn. Về thị trường, đại dịch Covid-19 bùng phát và lan rộng tại các thị trường quan trọng của NLTS VN như Trung Quốc, EU, Mỹ. Các nước áp dụng các biện pháp phòng dịch như phong tỏa các thành phố/đóng cửa biên giới và hạn chế thương mại đã gây ra tình trạng gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, khiến cho XK NLTS của VN chịu ảnh hưởng nặng nề. Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn thách thức vô cùng lớn trên lại là cơ hội để ngành Nông nghiệp, các doanh nghiệp (DN), hộ SX có thể đẩy mạnh hơn tái cơ cấu SX, thị trường; đổi mới sáng tạo, chuyển đổi tích cực chuỗi cung ứng, logistics; tăng cường ứng dụng KHCN và đổi mới phương thức SXKD.

Ảnh minh họa – X.T

Giới thiệu

Trong năm 2019, vượt qua ba thách thức lớn về thị trường, thời tiết cực đoan do biến đổi khí hậu và dịch bệnh diễn biến phức tạp (dịch tả lợn châu Phi, cúm gia cầm), xuất khẩu nông lâm thủy sản (XK NLTS) của Việt Nam (VN) vẫn duy trì được đà tăng trưởng khá. Kim ngạch XK toàn ngành đạt 41,3 tỷ USD, tăng 5,3% so với năm 2018; thặng dự thương mại của cả ngành đạt mức kỷ lục 10,4 tỷ USD, tăng tới 32,8% so với cùng kỳ năm 2018.

Bước sang năm 2020, ngành NTLS tiếp tục đối mặt với các thách thức lớn. Về thị trường, đại dịch Covid-19 bùng phát và lan rộng tại các thị trường quan trọng của NLTS VN như Trung Quốc, EU, Mỹ. Các nước áp dụng các biện pháp phòng dịch như phong tỏa các thành phố/đóng cửa biên giới và hạn chế thương mại đã gây ra tình trạng gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, khiến cho XK NLTS của VN chịu ảnh hưởng nặng nề. Đồng thời, XK nhóm sản phẩm cây công nghiệp như cao su, cà phê, hồ tiêu, điều của VN chịu tác động kép của áp lực giảm giá chung trên thị trường thế giới. Cùng với đó, những bất ổn thị trường thế giới từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ- Trung, những thay đổi chính sách rất mạnh của các thị trường đặc biệt là các biện pháp tăng cường sự bảo hộ, nâng cao yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm… cũng ảnh hưởng không nhỏ tới XKNS của VN. Về sản xuất (SX), tình trạng mưa đá ở phía Bắc; hạn hán, xâm nhập mặn diễn ra gay gắt ở ĐBSCL; hạn nặng tại khu vực Tây Nguyên có tác động tiêu cực tới năng suất và sản lượng của một số ngành hàng NS chủ lực của VN như lúa gạo, trái cây, cà phê, hồ tiêu, cao su. Bên cạnh đó, dịch tả lợn châu Phi đã kiểm soát nhưng cũng ảnh hưởng không nhỏ tới ngành Chăn nuôi. Khó khăn kép về thị trường và SX ảnh hưởng tới việc hoàn thành mục tiêu đạt 42 tỷ USD XKNS trong năm 2020. XK NLTS Quý I/2020 chỉ đạt khoảng 9 tỷ USD, giảm 0,3% so với cùng kỳ năm 2019.

Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn thách thức vô cùng lớn trên lại là cơ hội để ngành Nông nghiệp, các doanh nghiệp (DN), hộ SX có thể đẩy mạnh hơn tái cơ cấu SX, thị trường; đổi mới sáng tạo, chuyển đổi tích cực chuỗi cung ứng, logistics; tăng cường ứng dụng KHCN và đổi mới phương thức SXKD. Đồng thời tận dụng tốt nhu cầu thị trường sẽ tăng lên sau đại dịch Covid-19 sẽ là cơ hội cho những nước XKNS như VN.

Tình hình xuất khẩu nông sản Việt Nam 2019

Năm 2019 được đánh giá là một năm khó khăn đối với ngành Nông nghiệp của VN trong bối cảnh: (1) Dịch tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp, (2) Tác động của biến đổi khí hậu dẫn đến các hình thái thời tiết cực đoan xảy ra bất thường, hạn hán, lũ lụt, cháy rừng, sạt lở, xâm nhập mặn mức độ nghiêm trọng hơn, như ở Tây Nguyên, Bắc và Nam Trung Bộ; (3) Thị trường nhiều mặt hàng NS không ổn định, có xu hướng giảm giá mạnh và chịu tác động từ căng thẳng thương mại giữa các nước lớn, nhất là đối với một số mặt hàng NS chủ lực XK với những quy định mới khắt khe và yêu cầu cao hơn của thị trường, nhất là thị trường Trung Quốc…Tuy nhiên, trong năm 2019, ngành Thương mại NLTS là một trong những điểm sáng trong thương mại quốc tế của VN. Kim ngạch XK toàn ngành đạt 41,3 tỷ USD, tăng 5,3% so với năm 2018. Xét về cán cân thương mại, thương mại NLTS đạt thặng dư rất cao với 10,4 tỷ USD, tăng tới 32,8% so với cùng kỳ năm 2018. (xem đồ thị 1)

Đồ thị 1: Thương mại nông sản của Việt Nam 2018 – 2019

Nguồn: Tổng cục Hải Quan, 2020

Đóng góp vào thành tích XK NLTS của VN trong năm 2019 có thể kể đến gỗ và các sản phẩm từ gỗ, thủy sản, rau quả, hạt điều và cà phê… Trong đó, XK gỗ và các sản phẩm từ gỗ đạt 10,6 tỷ USD, thủy sản đạt 8,6 tỷ USD, hàng rau quả đạt 3,8 tỷ USD, hạt điều đạt 3,3 tỷ USD. (xem đồ thị 2)

Đồ thị 2: Giá trị XKNLTS của VN năm 2019

Nguồn: Tổng cục Hải Quan

XK gỗ và các sản phẩm từ gỗ, chè và cao su có thể được coi là những điểm sáng trong XKNS của VN năm 2019 với mức tăng trưởng hai con số nhờ tận dụng tốt các cơ hội đến từ căng thẳng thương mại giữa hai nền kinh thế lớn là Trung Quốc và Mỹ. Cụ thể là, giá trị XK gỗ và các sản phẩm từ gỗ tăng 19% so với năm 2018, XK cao su tăng 10% và chè tăng 10%.

XK nhóm sản phẩm cây công nghiệp như cà phê, gạo, hồ tiêu, điều của VN trong trong năm 2019 suy giảm dưới áp lực giảm giá chung trên thị trường thế giới. Trong đó, cà phê là mặt hàng có mức suy giảm giá trị XK lớn nhất với mức giảm 20% so với năm 2018, theo sau là gạo với mức giảm 8%, hạt tiêu giảm 5% và hạt điều điều giảm 2%, thủy sản giảm 2%. (xem đồ thì 3)

Đồ thị 3: Tăng trưởng XK của một số mặt hàng NLTS chính năm 2019

Nguồn: Tổng cục Hải Quan

Về thị trường, Hoa Kỳ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và ASEAN tiếp tục là những thị trường chính của XK NLTS của VN trong năm 2019. XK NLTS sang thị trường Mỹ đạt 9,8 tỷ USD, tăng 13,9% so với năm 2018; Trung Quốc đạt 8,6 tỷ USD, giảm 1,4%; EU đạt 4,1 tỷ USD, giảm 11,8% Nhật Bản đạt 3,4 tỷ USD tăng 7,5%. (xem đồ thị 4)

Đồ thị 4: Giá trị XKNLTS sang một số thị trường chính của VN năm 2019

Nguồn: Tổng cục Hải Quan

Thách thức trong XK NLTS đầu năm 2020

Trong những tháng đầu năm 2020, sự bùng phát của đại dịch Covid-19 đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nền kinh tế lớn như Mỹ, EU và Trung Quốc. Đại dịch này cũng mang đến lo lắng về khả năng khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Đối với thương mại NLTS, sự bùng phát tại các thị trường quan trọng của NLTS VN như Trung Quốc, EU, Mỹ đã gây đình trệ hoạt động thương mại do các nước áp dụng các biện pháp phòng dịch như hạn chế đi lại, tăng cường kiểm dịch hàng hóa nhập khẩu. Các thị trường này hầu như không ký hợp đồng mới, các hợp đồng đã ký trước đây được yêu cầu giảm giá, hoãn thời gian giao hàng hoặc hủy hợp đồng đối với nhiều loại sản phẩm NLTS.

Trong Quý I/2020, XK NLTS của VN ước đạt 9 tỷ USD, giảm 0,3% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó, XK gỗ và các sản phẩm từ gỗ đạt 2,8 tỷ USD, thủy sản đạt 1,5 tỷ USD, rau quả đạt 836 triệu USD, cà phê đạt 801 triệu USD. (xem đồ thị 5)

Đồ thị 5: Tăng trưởng xuất khẩu 2 tháng đầu năm 2020 so với cùng kỳ năm 2019

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

XK nhóm sản phẩm cây công nghiệp như cao su, cà phê, hồ tiêu, điều của VN chịu tác động kép của áp lực giảm giá chung trên thị trường thế giới và dịch Covid-19. Trong 2 tháng đầu năm 2020, giá trị XK cao su giảm 19,9% so với cùng kỳ năm 2019, chè giảm 13,5%, rau quả giảm 8,8%, hạt điều giảm 8,4%, hạt tiêu giảm 7,4%.

Đối với sản phẩm gạo, đại dịch Covid-19 ảnh hưởng tới SX và XK gạo của VN khiến nhiều đơn hàng XK bị chậm lại do lệnh hạn chế đi lại, đóng cửa biên giới của các nước trên thế giới. Về phía nguồn cung lúa gạo, mùa khô năm 2019 – 2020, xâm nhập mặn ở ĐBSCL xuất hiện sớm hơn so với mùa khô năm 2015-2016(1) với mức độ gay gắt hơn, các đợt xâm nhập mặn liên tục xảy ra với mức cao. Tính đến ngày 20/3/2020 có 33,8 nghìn hecta lúa Đông Xuân bị nhiễm mặn, trong đó diện tích mất trắng là 20,2 nghìn hecta, chiếm 1,3% diện tích gieo trồng. Trong đó, 5 tỉnh: Cà Mau, Bến Tre, Kiên Giang, Tiền Giang và Long An đã phải ban bố tình trạng khẩn cấp… Dự báo, xâm nhập mặn sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao trong thời gian còn lại của mùa khô, tiếp tục ảnh hưởng đến SX lúa. Để đảm bảo an ninh lương thực trong nước, việc tạm dừng XK gạo vào cuối tháng 3 và sau đó là quy định XK gạo có kiểm soát gây tác động tới các DN đã ký nhiều đơn hàng nhưng không thể XK. Hệ lụy là VN có thể mất nhiều bạn hàng truyền thống, cụ thể như Philippines và Malaysia đã đưa ra kế hoạch tìm nguồn nhập khẩu từ các quốc gia khác. Cạnh tranh trên thị trường XK gạo ngày càng tăng do các nước đang tích cực mở rộng SX. Dự báo sản lượng lúa gạo ở Ấn Độ, Pakistan và Myanmar sẽ tăng khoảng 1,5 triệu tấn, 200 nghìn tấn và 125 nghìn tấn trong năm 2020.

Đối với sản phẩm chăn nuôi, dịch tả lợn châu Phi chưa hoàn toàn chấm dứt trong khi dịch cúm gia cầm có nguy cơ bùng phát và đặc biệt là dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tác động tiêu cực tới hoạt động SX, xuất nhập khẩu. Nhu cầu tiêu thụ thực phẩm giảm mạnh do lượng khách du lịch nội địa cũng như quốc tế từ tháng 2/2020 đến nay giảm tới 65-70% so với cùng kỳ năm trước, dẫn tới hiện tượng cung vượt quá cầu đối với hầu hết các sản phẩm chăn nuôi (trừ thịt lợn), hàng loạt sản phẩm bị giảm giá mạnh, thậm chí không bán được như thịt và trứng gia cầm… Ảnh hưởng của các dịch bệnh khác như dịch tả lợn châu Phi mặc dù đã được kiểm soát tuy nhiên còn tiềm ẩn nhiều rủi do nên việc tái đàn lợn diễn ra chậm. Dịch cúm gia cầm bùng phát trở lại tại 11 địa phương gây tâm lý lo ngại với cả người chăn nuôi cũng như người tiêu dùng đối với các sản phẩm gia cầm. Chính phủ các nước đóng cửa biên giới vì dịch Covid-19 dẫn đến khó khăn trong việc vận chuyển, trong khi nhu cầu tiêu thụ nhiều mặt hàng trong đó có sản phẩm chăn nuôi cũng sẽ sụt giảm.

Đối với mặt hàng thủy sản, biện pháp phong tỏa tại Trung Quốc, EU khiến XK thủy sản chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Trong 2 tháng đầu năm 2020, giá trị XK sang thị trường Trung Quốc giảm tới 48,8% so với cùng kỳ năm 2019, Hà Lan giảm 25,8%, Đức giảm 16,2% và Anh giảm 9,3%. Việc vận chuyển hàng hóa bị hạn chế gây ảnh hưởng lớn tới ra giao thương, hàng hóa tắc nghẽn tại các cửa khẩu đẩy chi phí XK cao. Trước khó khăn về thị trường XK bị ảnh hưởng, hoạt động kinh doanh đứt đoạn, lợi nhuận các DN suy giảm trong thời kỳ dịch bệnh và thương mại gián đoạn. Do đó, DN gặp thách thức lớn về vốn để duy trì SXKD và xây dựng nguồn nguyên liệu để đáp ứng cho tái SXKD khi hết dịch bệnh. Xu hướng tiêu dùng trên thế giới đang có sự chuyển biến, nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm thủy sản đông lạnh và chế biến sẽ gia tăng là thách thức cho một số DN đang sử dụng công nghệ lạc hậu.

XK gỗ và các sản phẩm từ gỗ cũng ghi nhận sự tăng trưởng trong 2 tháng đầu năm nhờ động lực XK sang các thị trường truyền thống có giá trị cao như Mỹ và EU. Tuy nhiên, trước những diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, việc nhiều thị trường trọng điểm của ngành gỗ (Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) buộc phải đóng cửa biên giới để kiểm soát tình hình dịch bệnh, các đối tác nhập khẩu gỗ và sản phẩm từ gỗ tại các thị trường lớn như EU, Mỹ hay Trung Quốc phải trì hoãn thậm chí hủy hợp đồng cung ứng đã ký. Theo ước tính của Hiệp hội Nông nghiệp VN, ước tính thiệt hại thương mại gỗ và các sản phẩm từ gỗ đến nay khoảng 260 tỷ đồng. Lượng hàng hóa tồn kho dẫn tới tăng chi phí lưu kho bãi của DN. Ở khía cạnh nhập khẩu, Trung Quốc là một trong những đối tác cung cấp gỗ nguyên liệu cũng như phụ kiện dùng trong ngành công nghiệp chế biến gỗ lớn của VN. Đại dịch Covid-19 có thể khiến nguồn cung phụ kiện này bị đình trệ, gây thiếu hụt nguyên liệu và phụ kiện cho ngành chế biến gỗ trong nước. Các DN tại VN phụ thuộc nhiều vào các mặt hàng như dây đai, phụ kiện, thanh trượt, bản lề, sơn, hóa chất và một số mặt hàng kim loại khác từ Trung Quốc. Dịch Covid-19 cũng làm cho các nguồn cung này bị chững lại. (xem bảng 1)

Trong thời gian tới, do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, các thị trường sẽ có những biến động khác nhau tuy nhiên việc XK còn rất nhiều khó khăn. Trung Quốc kiểm soát tốt dịch bệnh nhưng muốn thị trường này hoạt động lại như bình thường còn cần thời gian và ít nhất cũng phải tới tháng 4 mới ấm lại. Với thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, việc chống dịch đã đạt kết quả rất tích cực, số ca nhiễm liên tục giảm. Chuyên gia dự đoán Nhật Bản và Hàn Quốc về cơ bản sẽ khống chế được dịch bệnh trong Quý II/2020. Và do đó thị trường XK sang Nhật Bản và EU có thể sẽ bị ảnh hưởng trong nửa cuối tháng 3 đến tháng 5/2020 và sẽ quay trở lại vào tháng 6. Khi đó, nhu cầu nhập khẩu các sản phẩm thực phẩm của các nước này cũng sẽ tăng, tuy nhiên mức tăng có thể sẽ không nhiều. Với EU và Mỹ, dịch bệnh diễn biến phức tạp do các quốc gia EU chậm áp dụng các biện pháp mạnh mẽ ngăn chặn sự lây lan của Covid-19.

Mặc dù gần đây các nước EU đã tăng cường các biện pháp phòng chống dịch, bao gồm cả cách ly xã hội chẩn đoán và điều trị, các chuyên gia chưa đưa ra được dự báo khi nào EU đạt đến đỉnh dịch. Chuyên gia dự báo số lượng các ca nhiễm bắt đầu giảm trong 3 tháng tới. Với Mỹ dịch bệnh diễn biến phức tạp không kém, số ca nhiễm sẽ tăng nhanh chóng. Các chuyên gia chưa đưa được dự báo về thời điểm kiểm soát được hoàn toàn nhưng cũng dự đoán có thể mất 3 tháng để khống chế dần dần. Hiện nay, có nhiều doanh nghiệp EU, Mỹ đã từ chối nhận các đơn hàng và XK một số mặt hàng NS của VN đã ảnh hưởng nặng. Các doanh nghiệp gỗ, thủy sản là ảnh hưởng rất lớn. Trong tháng 3 XK sang Nhật và Mỹ cũng sẽ bị ảnh hưởng nặng và giảm mạnh. Doanh nghiệp XK gỗ thì bị ảnh hưởng ngày từ khi Covid-19 xảy ra với Trung Quốc do thiếu nguồn nguyên liệu nhập khẩu để chế biến XK. Đến thời điểm này thì lại chịu ảnh hưởng do các đơn hàng XK giảm xuống. Với tính toán của các chuyên gia, EU và Mỹ có thể mất trên 3 tháng để khống chế dần dần dịch bệnh thì phải đến tháng 6 – tháng 7 thị trường này mới ấm lại.

Cơ hội cho sản xuất kinh doanh nông sản trong thời kỳ dịch bệnh Covid-19

Có thể nói đại dịch Covid-19 có ảnh hưởng rất lớn tới toàn nền kinh tế nói chung và trong đó có ngành Nông nghiệp. Tuy nhiên đây cũng là những thời gian để cho các các đơn vị SXKD NS và nhất là DN nhìn nhận lại chính mình để có những thay đổi hiệu quả, tăng cường ứng dụng KHCN và đổi mới phương thức SXKD nâng cao hiệu quả. Trong XK các DN cũng nhìn nhận rõ cần tăng cường XK chính ngạch, hạn chế XK qua biên mậu.

Bên cạnh đó, giai đoạn này cũng giúp các DN nhìn nhận rõ vai trò vô cùng quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý chuỗi và hệ thống khách hàng, và dần dần phát triển thương mại điện tử hiệu quả. Thời gian này cũng cho thấy những DN bỏ qua thị trường nội địa khó khăn hơn nhiều so với các DN phục vụ thị trường trong nước. Và đây cũng là cơ hội cho các DN có thể nhìn nhận rõ hơn thị trường trong nước rất lớn với 100 triệu dân, trong đó có khoảng 40 triệu dân thành thị. Do vậy, việc nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng chuỗi phân phối NS trong nước là cơ hội không nhỏ cho các DN và người SX.

Những khó khăn trong giai đoạn này là động cơ để ngành Nông nghiệp tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại SX, ngành hàng một cách toàn diện hơn theo hướng đẩy mạnh chế biến, gắn SX với chế biến và tiêu thụ, thúc đẩy liên kết trong chuỗi giá trị. Đồng thời có thời gian tổ chức lại SX đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn, vệ sinh an toàn thức phẩm, truy suất nguồn gốc… của các thị trường lớn. Bên cạnh đó, giai đoạn này cũng cho chúng ta càng thấy rõ hơn vai trò quan trọng của hệ thống logistics phục vụ KDNS. Và đây là cơ hội rất lớn để đầu tư phát triển hệ thống logistics giúp kết nối sản xuất tốt với thị trường, giúp cung cấp NS đến người tiêu dùng ổn định hiệu quả, giảm sự bất ổn thị trường.

Bên cạnh đó, một vấn đề trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19 cho chúng ta thấy hệ thống quản lý giám sát thông tin còn nhiều hạn chế và đây cũng là cơ hội để xây dựng hệ thống thông tin về cung-cầu thị trường, tồn kho, tình hình XK minh bạch để giúp nhà quản lý có được những thông tin chính xác và từ đó có chính sách hiệu quả. Đồng thời có thể xây dựng những chính sách can thiệp, công cụ chính sách mới giúp ổn định thị trường, hỗ trợ DN, người SX hiệu quả.

Hiện nay, thị trường NS gặp rất nhiều khó khăn do dịch bệnh Covid-19 gây ra. Hầu hết các thị trường đến cuối tháng 3 đều gặp khó khăn trong giao thương vận chuyển. Tuy nhiên, nhu cầu nhập khẩu NS các mặt hàng lương thực, thực phẩm, nhất là lúa gạo sẽ tăng lên do các nước đều lo ngại ảnh hưởng đến an ninh lương thực quốc gia và gây bất ổn chính trị. Điều này thể hiện rất rõ khi khủng hoảng lương thực toàn cầu năm 2008 và 2011. Bên cạnh đó, khi đại dịch được kiểm soát, nhu cầu tiêu thụ nông sản sẽ tăng lên, và điều này thể hiện rất rõ với Trung Quốc.

Sau khi kiểm soát tốt dịch bệnh, Trung Quốc đã bắt đầu bằng mọi cách tăng nhập khẩu bên cạnh việc thúc đẩy nhanh SX trong nước. Để thúc đẩy nhập khẩu, Trung Quốc giảm thuế 80 mặt hàng thực phẩm (trong tổng số trên 800 mặt hàng) để thúc đẩy nhập khẩu đáp ứng nhu cầu trong nước. Theo danh sách các mặt hàng được công bố, mức thuế đối với thịt lợn đông lạnh đã giảm từ 12% xuống 8%, bơ đông lạnh giảm từ 30% xuống 7% và nước cam giảm từ 30% xuống 15%. Mặt hàng thịt lợn sẽ nằm trong danh sách giảm thuế do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi, dịch bệnh đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn cung thịt lợn nội địa dẫn đến sự thiếu hụt sản phẩm, do đó nhu cầu nhập khẩu sản phẩm là rất lớn. Các mặt hàng thực phẩm đáng chú ý khác trong danh sách bao gồm các loại cá đông lạnh, hải sản, các loại hạt tươi/khô, thảo mộc, bia, rượu và các sản phẩm khác. Như vậy sau đại dịch thì nhu cầu nhập khẩu sẽ là cơ hội tốt cho các ngành hàng XK của VN, trước mắt các mặt hàng lương thực, thực phẩm sau nữa là sản phẩm NS khác.

Đối với sản phẩm gạo, trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19, các biện pháp cách ly, đóng cửa đang cản trở hoạt động thương mại gạo toàn cầu. Sau khi VN tạm dừng XK gạo, mới đây Campuchia thông báo cấm XK gạo từ ngày 5/4/2020 để đảm bảo dự trữ gạo cho nhu cầu nội địa trong bối cảnh dịch Covid-19. Trong khi đó, nhu cầu nhập khẩu lúa gạo tăng cao để dự trữ ở các quốc gia do ảnh hưởng của dịch Covid-19, đặc biệt là các quốc gia như Trung Quốc, Philippines và Malaysia. Các quốc gia sản xuất gạo chính của EU là Italia và Tây Ban Nha (chiếm khoảng 75%-80% tổng sản lượng gạo của EU) đang phải phong tỏa quốc gia do dịch bệnh Covid-19 diễn ra nghiêm trọng, dẫn đến hoạt động SX có thể bị ngừng trệ. Theo Hiệp định Thương mại tự do EU-VN (EVFTA) các mặt hàng gạo XK và thị trường này sẽ tuân theo quy định về hạn ngạch thuế quan của EU dành cho VN(2). Tổng lượng hạn ngạch này cho một năm sẽ là 80.000 tấn với mức thuế 0%. Như vậy, thời điểm hiện tại là cơ hội tốt cho gạo VN đẩy mạnh XK, mở rộng thị trường sau khi đã đảm bảo đủ số lượng dự trữ cho an ninh lương thực. Do đó VN cần cần tận dụng cơ hội này, nhất là trong điều kiện tình hình sản lượng vụ Đông Xuân tốt, các DN còn tồn trữ khá.

Với sản phẩm trái cây, nhu cầu tiêu dùng rau quả của Trung Quốc rất lớn và liên tục tăng, nhất là sau khi kiểm soát được dịch Covid-19. Theo danh sách các mặt hàng được công bố, mặt hàng dừa khô giảm từ 12% xuống 7%. Trong tình hình dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp, các thị trường nhập khẩu rau quả nhiều nhất của Trung Quốc cũng đang chịu tác động lớn của dịch như Thái Lan, Chi Lê, Australia… dẫn đến nguồn cung cấp rau quả có thể sẽ bị sụt giảm trong thời gian tới và VN vẫn có cơ hội rất lớn trong XK rau quả tươi sang Trung Quốc do có lợi thế về khoảng cách thương mại biên giới. Các thị trường Nhật, Hàn Quốc, EU, Nga cũng đều có thể có nhu cầu nhập khẩu tăng lên. VN có thể tăng khối lượng XK sang thị trường Nga, nhờ việc tận dụng cơ hội từ lệnh cấm vận thực phẩm mà Nga đã đáp trả lệnh trừng phạt của Mỹ và Liên minh châu Âu. Nga là một thị trường tiềm năng đối với hàng NS của VN. Bên cạnh đó, tận dụng hiệp định EVFTA thì chúng ta có thể thúc đẩy XK trái cây và các sản phẩm rau sang thị trường này.

Với mặt hàng thủy sản, dịch Covid-19 đang bùng phát mạnh tại các quốc gia XK cạnh tranh trực tiếp với VN như Ecuado, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan… ảnh hưởng lớn đến năng lực SX và XK của các quốc gia này. Đây là cơ hội tốt để DN XKTS VN mở rộng thị phần. Về phía cầu, xu hướng tiêu dùng thay đổi theo hướng ưa chuộng các sản phẩm chế biến đảm bảo chất lượng, đáp ứng được nhu cầu của thị trường; Hiệp định Thương mại EVFTA đã được thông qua, ngoài ra, các quốc gia giảm thuế nhập khẩu cho các sản phẩm thủy sản như Trung Quốc, tạo ra cơ hội tốt và ưu thế để DN VN nâng cao khả năng cạnh tranh.

Với mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ, việc thị trường Trung Quốc hoạt động trở lại sẽ giúp các nhà máy VN có nguồn nguyên liệu đầu vào để SX chế biến. Nhu cầu lớn thị trường tại Mỹ, EU là cơ hội tốt cho VN.

Ngành hàng chăn nuôi, bên cạnh khó khăn của ngành chăn nuôi lợn thì ngành này vẫn có thể tìm kiếm phát huy cơ hội để thúc đẩy một số sản phẩm như trứng, sữa, yến, mật ong. VN đã chính thức XK sữa sang Trung Quốc, mở ra một cơ hội XK sang thị trường rộng lớn này trong thời gian tới.

Để có thể biến những thách thức thành cơ hội, hay đón đầu những cơ hội trong thời gian tới thì bên cạnh sự lỗ lực của các DN, người SX thì cũng cần có sự hỗ trợ tích cực từ các chính sách của nhà nước để giúp người KD, SXNS vượt qua những khó khăn trước mắt và đổi mới đi lên. Trong đó cần nhất là những gói tín dụng gói tín dụng ưu đãi cho DN SXKD NS để giúp DN có thể vượt qua những lúc khó khăn này khi thị trường đóng băng. Đồng thời những chính sách ưu tiên giảm thuế, giãn nợ cũng giúp DN tiếp tục duy trì hoạt động và đón đầu những cơ hội khi dịch bênh Covid-19 được kiểm soát. Những chính sách này không chỉ áp dụng đối với DN SX chế biến NS mà cả những DN KD đầu vào SX và nhất là các DN logistics. Bên cạnh đó, những gói tín dụng ưu đãi giúp nông dân tiếp tục đầu tư SX cũng rất quan trọng để cung cấp NS ra thị trường đón đầu giai đoạn sau dịch Covid-19.

Bên cạnh những giải pháp cứu cánh về tín dụng, việc tiếp tục thúc đẩy XK để khơi thông thị trường SX là điều vẫn rất cần thiết, đặc biệt là đối với thị trường Trung Quốc và đối với một số mặt hàng hiện chúng ta có nguồn cung tốt đảm bảo nhu cầu tiêu thụ trong nước và thị trường đang có nhu cầu lớn như sản phẩm gạo, để tranh thủ hiện nay giá gạo thế giới đang tăng cao. Qua giai đoạn khủng hoảng này mới thấy SXKD nông nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế, ổn định xã hội. Điều này cho thấy việc đầu tư vào ngành cần được quan tâm thúc đẩy hơn nữa, Nhà nước cần có chính sách ưu tiên hơn nữa cho tổ chức lại SX, đẩy mạnh liên kết giữa SX-chế biến, cải thiện khâu bảo quản và chế biến sâu, phát triển hệ thống logistics phục vụ thương mại NS(3). Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ thống thông tin thị trường tốt để có thể nắm bắt tình hình thị trường trong nước(4) và thị trường thế giới qua đó có những can thiệp hiệu quả.

Nhóm phân tích thị trường, Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT

Ghi chú:

(1) Năm kỷ lục
(2) Ngoại trừ mặt hàng thóc giống để gieo trồng được miễn thuế 0% và mặt hàng gạo tấm được miễn thuế 50% ngay lập tức sau khi Hiệp định có hiệu lực Mặt hàng tấm sẽ được xóa bỏ thuế quan xuống 0% sau 5 năm.
(3) Nhất là hệ thống kho tàng, vận chuyển
(4) Cả cung, cầu, lưu kho dự trữ

Chủ đề:
Bạn đang xem danh mục: Thị Trường
Tin cập nhật
  • Hà Tĩnh: Nguy cơ “mất trắng” hàng tỷ đồng do nắng nóng kéo dài

    Nắng nóng kéo dài hơn một tháng qua khiến hàng trăm hecta chè, cam, bưởi ở huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) bị ảnh hưởng, nguy cơ mất trắng hàng tỷ đồng. Được xem là vùng “chảo lửa” của miền Trung, với nền nhiệt trung bình từ 37- 40 độ C, nông dân trồng cây đặc […]

  • Việt Nam trao công hàm phản đối Trung Quốc tập trận ở Hoàng Sa

    Bộ Ngoại giao Việt Nam đã trao công hàm phản đối, yêu cầu Trung Quốc không lặp lại hành động tập trận ở Hoàng Sa trong tương lai. Trả lời tại cuộc họp báo thường kỳ chiều 2/7, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam – Lê Thị Thu Hằng khẳng định, việc Trung […]

  • Thủ tướng: Dồn lực cho ‘tam mã’ kéo cỗ xe tăng trưởng

    Sáng ngày 2/7, phát biểu khai mạc Hội nghị Chính phủ với địa phương, Thủ tướng cho rằng, cỗ máy tăng trưởng của Việt Nam ví như “cỗ xe tam mã”, gồm 3 cấu phần quan trọng nhất, đó là đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng. Phải dùng mọi biện pháp thúc đẩy cả […]

Sự kiện
Tam nông