15:13 - 22/03/2017

Tác động biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long

Thu hoạch lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long  (ĐBSCL) là vùng sản xuất lúa gạo lớn nhất Việt Nam, ĐBSCL có 4 triệu ha đất tự nhiên, trong đó đất nông nghiệp là trên 2,4 triệu ha , chủ yếu là sử dụng cho sản xuất lúa (hơn 85%), còn lại là sử dụng cho nuôi trồng thủy sản, hoa màu và cây ăn trái. Hiện nay, vùng Đồng bằng này sản xuất gần 21 triệu tấn lúa/năm, chiếm trên 50% tổng sản lượng lúa cả nước, đóng góp khoảng 90% lượng lúa gạo xuất khẩu ra thế giới. Trung bình mổi năm, vùng ĐBSCL xuất ra thế giới từ 3,0- 3,5 triệu tấn gạo, đặc biệt năm 1999, lượng gạo xuất khẩu đã đạt đến mức 4 triệu tấn.

Vùng đồng bằng có một hệ thống sông rạch chằng chịt liên kết nhau và cùng đổ ra Biển Đông và biển Tây. Với hai mặt giáp biển với tổng chiều dài vùng ven biển là hơn 600 km nên tác động của các dao động biển lên đồng bằng rất lớn. Vùng đồng bằng hiện đang chịu hai tác động dòng chảy, dòng chảy của sông Mekong từ thượng nguồn đổ về và dòng triều do tác động biển xâm nhập vào đất liền. Trong khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 10 là thời gian vùng Đồng bằng bị ngập lũ, còn từ tháng 1 đến tháng 4 là thời đoạn vùng Đồng bằng bị tác động mạnh mẽ của hiện tượng xâm nhập mặn và khô hạn.

Theo kết quả phỏng đoán các biến đổi khí hậu ở ĐBSCL từ các mô hình toán (chương trình hợp tác nghiên cứu giữa Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu – Đại học Cần Thơ, Việt Nam và Trung tâm START vùng Đông Nam Á của Đại học Chulalongkorn, Thái Lan) cho thấy, trong khoảng thập niên 2030 – 2040, nhiệt độ trung bình cũng như nhiệt độ lớn nhất và nhỏ nhất trong vùng ĐBSCL đều gia tăng, phổ biến tăng khoảng 2 °C. Khi nhiệt độ thấp không khí tăng lên 1 °C, năng suất lúa sẽ giảm đi khoảng 10%. Giả thiết điều này xảy ra, vùng ĐBSCL có thể mất từ 2 – 4 triệu tấn lúa mỗi năm chỉ riêng do sự nóng lên của nhiệt độ khu vực.

Mô hình cũng phỏng đoán trong khoảng 30 năm tới, tổng lượng mưa trung bình trong vùng ĐBSCL cũng sẽ giảm sút phổ biến từ 10 – 20% khiến việc cung cấp nước ngọt cho canh tác lúa thêm khó khăn. Điều đáng lưu ý là sự phân bố mức giảm sút này thay đổi theo tháng trong mùa mưa. Các tháng đầu mùa vụ Hè Thu như tháng 4, tháng 5 và qua giữa tháng 6, lượng mưa có thể giảm sút từ 20 – 40% khiến việc gieo sạ, phát triển chồi của cây lúa bị ảnh hưởng. Các tuần lễ từ giữa đến cuối tháng 7, hạn Bà Chằn thêm gay gắt khiến việc trổ đòng của lúa bị tác động. Nhưng đến cuối mùa mưa, lượng mưa gia tăng dần lên, đôi khi có những cơn mưa có cường độ lớn bất thường cộng thêm lũ về, khiến việc thu hoạch lúa Hè Thu thêm khó khăn, tỷ lệ thất thoát sẽ gia tăng và chi phí xử lý sau thu hoạch sẽ làm thu nhập của nông dân giảm đi. Mưa và nhiệt độ thay đổi thất thường cũng sẽ gây ra những sự bùng phát khó lường của sâu bệnh, nấm bệnh hại lúa. Lượng mưa giảm đáng kể trong mùa khô khiến hạn hán và sự xâm nhập mặn thêm trầm trọng làm ảnh hưởng đến canh tác lúa vụ Đông Xuân. Ngoài ra, sự gia tăng khô hạn trong mùa khô và giảm sút lượng mưa trong đầu mùa mưa sẽ làm sự nhiễm phèn thêm, độc chất của phèn sẽ ảnh hưởng lớn đến cây lúa nhất là giai đoạn đầu, thậm chí sẽ làm chết hàng loạt mạ mới gieo sạ nến không có đủ nước dể rửa phèn. Nếu không có biện pháp chủ động về nguồn nước tưới, sự giảm sút và sự thay đổi thất thường lượng mưa ở ĐBSCL sẽ làm thu nhập của nông dân sẽ giảm đi khoảng 20 – 40 % so với hiện nay. Nông dân phải gia tăng chi phí cho việc bơm nước tưới lúa, gia cố kênh mương trữ nước, sử dụng nhiều thuốc bảo vệ thực vật, thay đổi cơ cấu canh tác, chi phí xử lý sau thu hoạch. Ngoài ra, chất lượng hạt lúa cũng có thể bị giảm sút như mưa thất thường cuối vụ có thể làm gia tăng nấm mốc độc hại trên hạt lúa và các loại ngũ cốc khác.

Hệ quả của hiện tượng nóng lên toàn cầu là sự tan băng và nước biển dâng khiến nhiều vùng đất thấp sẽ bị ngập chìm và xâm nhập mặn. Uỷ ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu đã từng cảnh báo vùng ĐBSCL là một trong ba vùng đồng bằng ven biển sẽ bị tác động nghiêm trọng nhất do biến đổi khí hậu và nước biển dâng lên cộng đồng dân cư so với các nơi khác trên thế giới. Theo phỏng đoán từ nay đến cuối thế kỷ này, trường hợp mực nước biển trung bình dâng lên từ 0,75 mét đến 1 mét, sẽ có ít nhất 25% diện tích đất nông nghiệp vùng ven biển ĐBSCL sẽ bị chìm ngập và khoảng 75% diện tích canh tác hiện nay sẽ bị nhiễm mặn mùa khô và khoảng 40-50% diện tích nông nghiệp bị ảnh hưởng của nước mặn ngay cả trong mùa mưa, khó có thể trồng lúa được. Điều này có thể tạo nên một nguy cơ là sản lượng lúa của khu vực sẽ giảm đi ít nhất một nửa và Việt Nam có thể sẽ là một quốc gia không có lúa xuất khẩu. Ngoài ra, nước biển dâng sẽ làm gia tăng việc đất đất rừng ven biển, xói lở, xâm thực bờ sẽ nghiêm trọng hơn làm giảm đất cư trú và canh tác.

Các hiện tượng thời tiết cực đoan khác cũng có thể gia tăng mức độ như bão lớn có thể xuất hiện ở các vĩ độ thấp hơn nhất là vào thời điểm cuối năm. Các cơ sở hạ tầng cho nông nghiệp như hệ thống đê biển, hệ hống kênh mương, cống đập, trạm bơm, sân phơi, nhà kho, trạm cơ khí nông nghiệp, phương tiện và hệ thống phân phối nông sản,… có thể bị bão tàn phá. Lốc xoáy, gió mạnh, mưa lớn, sương mù, các đợt lạnh, khô hạn,… sẽ đột biến và bất thường  hơn. Việc sản xuất nông nghiệp có thể bị đe doạ thất thu do những sự cố tự nhiên này. Ngoài ra, sức khoẻ của nông dân cũng bị ảnh hưởng do biến đổi khí hậu khiến việc sản xuất nông nghiệp thêm hạn chế và khó khăn.

Do nhu cầu phát triển kinh tế và năng lượng cũng như đối phó các vấn đề về biến đổi khí hậu, các nước thượng nguồn sông Mekong càng quyết liệu trong việc khai thác nguồn tài nguồn nước trên sông Mekong như việc xây dựng các đập nước nhà máy thuỷ điện trên dòng chính và dòng nhánh như trường hợp ở Trung Quốc, Lào và Cambodia, kế hoạch chuyển nước sông Mekong qua các lưu vực khác để sử dụng như Trung Quốc và Thái Lan triển khai, tại Cambodia cũng đang chuẩn bị mở rộng các hệ thống thuỷ nông để gia tăng việc thâm canh sản xuất lúa và nuôi trồng thuỷ sản khiến nguồn nước sông Mekong sẽ bị đe doạ hơn bao giờ hết. Điều này có nghĩa là chúng ta sẽ bị những tác động kép, ngoài những tác động thay đổi tự nhiên mang tính toàn cầu con bị chịu tác động có những hoạt động phát triển công nghiệp và nông nghiệp trong khu vực.

Biến đổi khí hậu, nước biển dâng và những tác động về vấn đề nguồn nước xuyên biên giới đang và sẽ là những thử thách rất lớn uy hiếp sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam khiến nền nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long có thể bị mất bền vững. Các nhà quản lý vĩ mô cần phải sớm nhận thức các nguy cơ này và phải có những đối sách hợp lý cho vấn đề. Đối với sản xuất lúa, cần phải có những điều chỉnh lịch thời vụ kịp thời, đẩy mạnh nghiên cứu tìm ra các giống lúa mới có thể chịu đựng khô hạn, nhiễm mặn tốt hơn. Trong canh tác lúa, biện pháp tưới tiết kiệm nước sẽ là một giải pháp giúp nông dân giảm chi phí sản xuất và phù hợp với sự suy kiệt nguồn nước. Ngoài ra các biện pháp công trình như ngăn mặn, giữ ngọt, khai thác nước ngầm, nạo vét củng cố hệ thống kênh mương nhằm gia tăng hiệu quả sử dụng nước, xây dựng và khai thác các nguồn năng lượng tái tạo (gió, mặt trời, sinh khối, dòng chảy) nhằm phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Nhoài ra, nên có những tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng và các nhà quản lý, tập huấn phương pháp lồng ghép biên đổi khí hậu và kế hoạch phát triển của địa phương. Các địa phương nên phối hợp với các khoa học để tìm ra các biện pháp thích nghi hợp lý cho cộng đồng. Việc tăng cường hợp tác khoa học với các tổ chức trong và ngoài nước cũng cần đẩy mạnh để có những chia xẽ thông tin và kiến thức nhằm ứng phó hợp lý nhất cho vấn đề nóng về biến đổi khí hậu. Các giải pháp cho vấn đề sản xuất lượng thực ở Đồng bằng sông Cửu Long không những có ý nghĩa đối với việc an ninh lượng thực quốc gia mà còn là một bảo đảm cho nguồn cung lương thực cho thế giới, cứu sống nhiều người ở các quốc gia đói nghèo khác nữa.

TS Lê Anh Tuấn

(Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu – Đại học Cần Thơ)

 

                                                                             

 

 

Chủ đề:
Bạn đang xem danh mục: Sự kiện, Tiêu điểm, Vấn đề quan tâm
Tin cập nhật
Sự kiện
Tam nông
  • Phát triển nông nghiệp thông minh là chìa khóa xây dựng nông thôn mới

    Mục tiêu cao nhất của Chương trình nông thôn mới (NTM) là xây dựng nông thôn thành những miền quê đáng sống, để đời sống người dân thực sự được nâng lên. Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng NTM giai đoạn 2021-2025 phấn đấu đến năm 2025 có ít nhất 80% số xã […]

  • Nông dân trồng hoa và rau ở Lâm Đồng gặp khó trong tiêu thụ

    Do ảnh hưởng của Covid-19 gây khó khăn trong lưu thông hàng hóa. Bởi vậy, dù đang bước vào vụ thu hoạch nhưng nhiều hộ trồng rau ở Lâm Đồng phải bỏ rau, hoa. Trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, nhất là các vùng chuyên canh rau, hoa lớn như: Đà Lạt, Đức Trọng, Đơn Dương, […]

  • Lào Cai đưa dược liệu thành cây chủ lực trong phát triển nông nghiệp

    Tỉnh Lào Cai phấn đấu đến năm 2030, cây dược liệu sẽ đạt 3.700ha, sản lượng khoảng 16.000-17.000 tấn/năm, 100% diện tích và sản lượng cây dược liệu vùng quy hoạch đảm bảo tiêu chuẩn GACP-WHO. Đánh giá, tiềm năng và cơ hội phát triển dược liệu của Lào Cai là rất lớn, Ủy ban […]