Sống chung với lũ: Cần thay đổi tư duy quản lý

Những ngày này, người dân đồng bằng sông Cửu Long đang nhộn nhịp vào vụ khai thác thủy sản, và đặc biệt là “mở đê đón lũ nhập đồng”. Thông tin lũ đang về từ miền sông Mê Kông khiến người dân hớn hở.

Bởi nói như Giáo sư Tiến sĩ Võ Tòng Xuân, người đã bao năm gắn bó cùng hạt lúa, hạt phù sa miền tây Nam bộ, mùa lũ chính là cơ hội hồi sinh cho các cánh đồng Cửu Long. Ông nhận định, lũ về đồng bằng là lẽ tự nhiên, hợp với quy luật bao đời ở nơi đây. Lũ giúp bồi bổ phù sa cho đất tươi tốt, giúp nhà nông cải tạo chất đất miễn phí sau một năm canh tác. Lũ giúp gột rửa chất thải ô nhiễm, diệt côn trùng gây hại, giết chết cỏ dại. Lũ giúp bồi bổ, trữ nước cho đất nghỉ ngơi, để cá tôm sinh sôi nảy nở.

Không gian sống của người dân đồng bằng sông Cửu Long, vì thế không thể thiếu lũ. Những năm nắng hạn cháy đồng, nước lũ ít về, đồng bằng khô kiệt hoa màu, người dân tin chắc năm sau vụ mùa sẽ không còn dồi dào như năm trước. Mở đồng đón lũ trở thành lựa chọn tất yếu cho nông dân nơi đây.

Điều này, với người dân Cửu Long cần phải vậy, nhưng với người dân miền Trung lại khác, hoàn toàn trái ngược. Địa hình miền Trung vốn dĩ ngắn, dốc, đa dạng nhiều kết cấu địa chất, nên yêu cầu trữ nước không cao, thậm chí nếu trữ nước sẽ lập tức nảy sinh nạn ngập lụt. Đây là lý do khiến miền Trung năm nào cũng có lũ, nhưng thái độ người dân nơi này lại không chấp nhận đón lũ, mà chỉ mong lũ tràn về, thì hãy tràn qua nhanh.

Cùng làm nông nghiệp lúa nước, tất nhiên nông dân cần nước. Người miền Trung cũng thấu hiểu rằng, nếu năm nào không có mưa, năm sau họ sẽ bị khô hạn, đồng ruộng thiếu nước. Nhưng mùa mưa của miền Trung cũng chính là mùa lũ, mùa nước ngập đồng gây hại cho hoa màu, tàn phá xói mòn đất đai, hư hại nhà cửa. Người miền Trung thấy lũ là sợ hãi lo lắng, không muốn lũ ở lại trên đất của mình.

Hai thái độ lựa chọn ấy, nhìn khác nhau, nhưng thật ra thuận cùng một lý, hợp với quy luật tự nhiên ở từng vùng đất thì tồn tại. Bất kỳ động thái nào trái với quy luật vùng miền ấy, chỉ gây hại và cần đào thải.

Nói điều này, Giáo sư Võ Tòng Xuân khẳng định, những nhà quản lý cần đổi khác tư duy của họ lâu nay, mới có thể thích hợp với hoàn cảnh tự nhiên, diễn biến khí hậu và quy luật có sẵn. Trong một thời gian dài, nhằm giữ sản lượng lúa cao, tập trung tích trữ nước ngọt, các nhà quản lý khu vực đồng bằng sông Cửu Long đã chủ trương xây dựng các đê bao chắn lũ, ngăn không cho lũ về để bảo vệ đồng ruộng ngọt quanh năm.

Tương tự như vậy, với tinh thần “chống lũ”, những nhà quản lý miền Trung đã chọn lựa “nâng nền tâng móng” làm giải pháp xử lý mùa mưa lũ. Các dự án đầu tư luôn lấy xu hướng nâng cao hơn mặt bằng, tạo nên những “con đê” nổi lên, để tránh bị lũ ngập. Ông Huỳnh Vạn Thắng, nguyên trưởng ban phòng chống bão lụt Đà Nẵng đã nhiều năm, từng phàn nàn: “Tôi không hiểu tại sao người ta lại cứ cho đào đắp những công trình giao thông cao hơn, đường quốc lộ cứ nâng lên, biến thành những bức tường cản nước không cho thoát lũ. Cứ thế, các dự án lại trở thành vật cản dòng nước, khiến phía sau bị ngập nặng cho đến khi nước dân vượt mặt tường tràn qua mới thôi. Mà như vậy, thì biết bao nhà cửa cây cối, hoa màu phía sau những bức tường ấy đã bị hư hại rồi:.

Theo những người làm công tác trị thủy miền Trung như ông Thắng, tốt nhất khâu quản lý hãy làm sao để lũ thoát nhanh khỏi đồng ruộng miền Trung, chứ đừng ngậm lại. Nhà quản lý miền Nam lại cần làm ngược, hãy để lũ tràn vào đồng ruộng, ngậm nước càng lâu càng tốt.

“Có lẽ các nhà quản lý, xuất phát từ góc nhìn hệ thống đê bao sông Hồng, bao năm cần chống trả lại thiên nhiên bằng cách nâng mặt đê hơn mặt nước, bảo vệ an toàn phía trong đê, nên chọn cách ngăn chặn dòng nước lũ chứ không thỏa hiệp hòa hợp. Việc này làm cho lũ bị chặn dòng ở miền Trung thay vì có thể chảy tràn qua nhanh, và bị chặn dòng ở đồng bằng sông Cửu Long thay vì đi vào đồng ruộng để hòa tan chất đất, trộn nước ngọt mặn thành nước lợ, phù hợp hoa màu thổ nhưỡng. Những cách quản lý như vậy, nên đổi khác”. Một giảng viên nghiên cứu nông nghiệp Đại học Cần Thơ chia sẻ như vậy.

Đã bao đời qua, với đặc điểm một dân tộc quen với văn minh lúa nước, câu cửa miệng của người dân Việt đã là “sống chung với lũ”. Trong mọi diễn biến thời tiết, thiên tai, lũ lụt vẫn là biểu hiện phổ biến nhất, hàm cả nghĩa tích cực và tiêu cực với người nông dân Việt Nam. Bởi thế, người nông dân Việt Nam luôn cần lũ về, nhưng tùy mỗi địa hình địa vật, hoàn cảnh tự nhiên mà có sự lựa chọn ứng xử khác nhau. Một khi nhà quản lý nắm bắt đúng những quy luật ấy, điều chỉnh tư duy quản lý phù hợp, mới có thể hỗ trợ cho người nông dân ổn định cuộc sống và canh tác, mỗi khi nghe tiếng lũ về.

Lê Thuý

[vivafbcomment]
Tin cập nhật