22:38 - 09/12/2018

Phát huy vị thế, vai trò của giai cấp nông dân trong xây dựng nông nghiệp thịnh vượng, nông dân giàu có, nông thôn văn minh, hiện đại

Tiến sỹ Thào Xuân Sùng

Uỷ viên BCH TƯ Đảng, Chủ tịch BCH T.Ư Hội Nông dân Việt Nam

 

Giai cấp nông dân có vị trí, vai trò chủ đạo trong cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bác Hồ nói: “Nông dân ta chí khí rất anh dũng, kinh nghiệm rất nhiều, lực lượng to. Điều đó đã tỏ rõ trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến. Nếu lãnh đạo tốt thì khó khăn gì họ cũng khắc phục được, việc gì to lớn mấy họ cũng làm được” Giai cấp nông dân đã trở thành “đội quân chủ lực của cách mạng”, là “cột trụ của chính quyền ở nông thôn”, là “đồng minh rất trung thành của giai cấp công nhân”.

Ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam mới ra đời, được Đảng giác ngộ, giai cấp nông dân Việt Nam đã tập hợp, đoàn kết dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng. Nhiều phong trào nông dân yêu nước đã vùng lên chống lại phong kiến cường hào, thực dân đế quốc, hỗ trợ cho phong trào công nhân lớn mạnh. Nông thôn đã trở thành căn cứ địa cách mạng của Đảng, là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến. Các phong trào nông dân cùng với phong trào công nhân đã tạo ra những cao trào cách mạng rộng lớn, nhờ đó mà Đảng và nhân dân ta đã giành được chính quyền, kháng chiến và kiến quốc thành công.

Tiến sĩ Thào Xuân Sùng – Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam thăm mô hình trồng măng tây xanh tại HTX Dịch vụ Nông nghiệp Tuấn Tú (Ninh Phước, Ninh Thuận). Ảnh: T.Mạnh

Thực hiện đường lối Đổi mới, nhất là sau 10 năm thực hiện Nghị quyết số 26- NQ/TW, Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân nông thôn, Hội Nông dân Việt Nam đã tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo, vận động nông dân đóng một vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, góp phần làm cho ngành Nông nghiệp và kinh tế nông thôn nước ta đạt được những thành tựu rất to lớn đóng góp quan trọng vào sự ổn định và phát triển đất nước. Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới với tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 10 năm (2008 – 2017) đạt 261,2 tỷ USD, tăng bình quân 9,24%/năm; riêng năm 2017 đạt 36,6 tỷ USD, tăng 20,5 tỷ USD so với năm 2008 và nông nghiệp là ngành đầu tiên xuất siêu năm 2018 đạt 7,45 tỉ USD. Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP cả nước giảm từ 21,1% năm 2008 xuống 15,34% năm 2017, cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển đổi tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần và khá nhanh tỷ trọng công nghiệp – xây dựng – dịch vụ. Có 1.498.918 lao động nông thôn đã được đào tạo nghề và 25 triệu lượt hội viên, nông dân được chuyển giao tiến bộ khoa học – công nghệ. Hội viên, nông dân đã đóng góp 17 ngàn tỷ đồng, trên 29 triệu ngày công, gần 6 triệu mét vuông đất để xây dựng nông thôn mới và góp phần xây dựng 3.478 xã đạt chuẩn nông thôn mới, bình quân đạt 14,26 tiêu chí/xã; 53 đơn vị cấp huyện, thị xã đạt chuẩn nông thôn mới. Thu nhập bình quân hộ gia đình ở nông thôn từ 75,8 triệu đồng năm 2012 lên 130 triệu đồng năm 2017, góp phần quan trọng vào xóa đói, giảm nghèo và đưa tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 6,72% năm 2017. Cả nước có 13.006 hợp tác xã nông nghiệp, số lượng doanh nghiệp nông nghiêp cũng tăng từ 2.397 doanh nghiệp năm 2007 lên 7.033 doanh nghiệp năm 2017 (tăng 2,93 lần) với tổng số vốn 213.394,9 tỷ đồng. Nhiều doanh nghiệp bước đầu đã thể hiện vai trò “bà đỡ” của chuỗi giá trị nông sản và sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, phát triển thị trường, số trang trại doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao đang tăng dần lên.

Tuy nhiên, nhìn tổng thể, nền nông nghiệp nước ta vẫn chưa thoát khỏi tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, thiếu tính quy hoạch và liên kết, tỷ lệ cơ giới hóa, ứng dụng khoa học công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp ở nựớc ta còn thấp, năng suất lao động, trình độ của nông dân còn hạn chế, dẫn đến chất lượng tăng trưởng và hiệu quả phát triển ngành Nông nghiệp không cao, kém bền vững.

Thu nhập của nông dân còn thấp so với các ngành nghề khác, một bộ phận nông dân bỏ ruộng, bỏ chăn nuôi, rời bỏ nông thôn; một bộ phận nông dân không còn tư liệu, sản xuất phải chuyển nghề, đi làm thuê, làm mướn. Tỷ lệ hộ nghèo giữa các vùng còn chênh lệch nhau khá lớn và đời sống của một bộ phận nông dân dân tộc thiểu số, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa còn rất khó khăn.

Trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển đổi để hội nhập nhanh với nền kinh tế quốc tế, không giống như các ngành sản xuất khác có thể dễ dàng chuyển đổi phương thức sản xuất thì ở ngành Nông nghiệp, sự chuyển dịch lên hiện đại có sự khó khăn rất lớn. Việc chuyển dịch ngành Nông nghiệp từ truyền thống sang hiện đại, đòi hỏi cần phải nâng cao hơn nữa chất lượng lao động nông thôn, nhất là nâng cao năng lực trình độ, ý thức trách nhiệm và khát khao của nông dân.

Nhưng để nâng cao vị thế, vai trò và đời sống của nông dân gắn với xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, ngoài sự nỗ lực vươn lên của nông dân thì rẩt cần sự hỗ trợ của Nhà nước, sự chung tay giúp đỡ của cả xã hội, nhất là sự đồng hành cửa doanh nghiệp nông nghiệp và các nhà khoa học. Trong đó cần thực hiện đồng bộ cảc nhóm giải pháp sau:

Thứ nhất, vận động nông dân tích cực tham gia đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp và chuyển đổi mô hình tăng trưởng

Để quá trình tái cơ cấu nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả, bền vững, trước hết là Hội Nông dân Việt Nam phải khơi dậy cho được tinh thần tự lực, tự cường, quyết tâm thoát nghèo như thoát khỏi ách thực dân đế quốc, tính năng động, tích cực sáng tạo của nông dân cả nước.

Trực tiếp tham gia rà soát, bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện quy hoạch sản xuất nông nghiệp trên cơ sở nhu cầu thị trường và lợi thế từng vùng, sử dụng đất nông nghiệp tiết kiệm, có hiệu quả; chỉ đạo các địa phương nghiên cứu, giải quyết chuyển đổi mô hình tăng trưởng  ở vùng sản xuất lúa cho hợp lý với tinh thần vẫn giữ 3,8 triệu hec-ta để trồng lúa, nhưng nên chuyển một số diện tích sang các cây trồng khác có thu nhập cao hơn, có đầụ ra ổn định trong 10-15 năm để nông dân tích lũy vốn và khi cần thiết thì đưa diện tích đó về sản xuất lúa có chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Bà con dân tộc thiểu số ở xã Văn Hán (huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên) thu hái chè. Ảnh: Thu Hà

Tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân cơ cấu lại ngành Nông nghiệp, gắn sản xuất với chế biến và thị trường. Phát triển sản xuất vởi quy mô hợp lý các loại nông sản hàng hoá xuất khẩu có lợi thế nông sản thay thế nhập khẩu. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, ứng dụng khoa học – công nghệ hiện đại, công nghệ sinh học, thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, thông tin hoá, thay thế lao động thủ công, thay đổi tập quán canh tác lạc hậu để sử dụng có hiệu quả đất đai, tài nguyên, lao động, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh trạnh của nông sản.

Phát triển ngành trồng trọt, hình thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung, thực hiện đầu tư thâm canh, áp dụng các giống và quy trình sản xuất mới có năng suất, chất lượng cao; hiện đại hoá công nghiệp bảo quản, chế biến, nâng cao chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và giá trị gia tăng của nông sản hàng hóa. Bố trí lại cơ cấu cây trồng, mùa vụ và giống để giảm thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh phù hợp với điều kiện của từng vùng.

Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ ở các vùng nông thôn theo quy hoạch. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp chế biến tinh, chế biến sâu gắn với vùng nguyên liệu và thị trường, đẩy mạnh sản xuất tiểu thủ công nghiệp, triển khai chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề. Phát triển nhanh và nâng cao chất lượng các loại dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống của dân cư nông thôn.

Người dân xã Ngọc Phái (huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn) tham gia làm đường giao thông nông thôn. Ảnh: HUYỀN THƯƠNG

Tạo mọi điều kiện cho nông dân tự chuyển đổi ngành nghề qua các chương trình, hình thức đào tạo nghề cho nông dân ở nông thôn như mở các lớp sơ cấp nghề, trung cấp nghề, chú trọng các nghề mới có hiệu quả kinh tế cao, các nghề phù hợp với quá trình tuyển dụng của các công ty khi khu công nghiệp ở các vùng nông thôn dần được hình thành và đi vào hoạt động. Đào tạo cho nông dân về những phương pháp canh tác mới áp dụng mạnh mẽ những thành tựu khoa học kỹ thuật, các mô hình chăn nuôi công nghiệp, dần dần giúp nông dân tự nhận thức trong sản xuất, không những chú trọng vào việc “trồng cây gì? nuôi con gì?” mà còn phải biết trồng và nuôi bằng cách nào, như thế nào để có hiệu quả kinh tế cao nhất.

Tiếp tục khuyến khích mở rộng các mô hình kinh tế tập thể theo nguyên tắc 3 chung: Chung vốn, chung đất đai và chung nguồn nhân lực. Nhanh chóng phân vùng, quy hoạch lao động ở nông thôn một cách hợp lý. Có chiến lược cụ thể và lâu dài gắn liền với quá trình quy hoạch công nghiệp và dịch vụ theo hướng phân chia nguồn nhân lực theo tỉ lệ ngành nghề và trình độ, khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật

Thứ hai, phát huy vai trò chủ thể  và trách nhiệm xã hội của giai cấp nông dân trong xây dựng nông nghiệp thịnh vượng

Thực hiện công cuộc Đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, vị thế chính trị của giai cấp nông dân và Hội Nông dân ngày càng được nâng cao, khẳng định vai trò chủ thể trong quá trình phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới.

Trách nhiệm xã hội và vai trò chủ thể của giai cấp nông dân trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới trong phát triển các hình thức kinh tế tập thể, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tích cực, chủ động tham gia xây dựng cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn; có chính sách bảo đảm lợi ích cho người trồng lúa, địa phương và vùng trồng lúa. Xây dựng các vùng sản xuất cây công nghiệp, cây ăn quả, rau, hoa, hàng hoá tập trung, trước hết là các vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu.

Trong tiến trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu ngày càng sâu rộng theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa, nhằm tranh thủ tốt nhất những điều kiện về chuyển giao công nghệ và khoa học kỹ thuật phục vụ thành công quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa trong nước, việc tập trung đầu tư phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trở nên cấp bách, với mục tiêu phát triển kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nông thôn mới văn minh gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ để thực hiện được mơ ước định canh, định cư “ly nông, bất ly hương” của nông dân Việt Nam và yêu cầu xây dựng đất nước đi đôi với bảo vệ Tổ quốc.

Thu hoạch cam ở huyện Bắc Quang (Hà Giang). Ảnh: M. HÙNG

Thực tế cho thấy, nông dân đang cần được đào tạo nghề, chuyển giao tiến bộ khoa học- kỹ thuật, xóa đói, giảm nghèo, hỗ trợ phát triển sản xuất và nâng cao đời sống, thực hiện dân chủ và công bằng xã hội. Đồng thời, một vấn đề cơ bản cũng cần làm rõ thành phần của nông dân hiện nay. Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xu hướng biến đổi của nông dân là: “ly nông, bất ly hương”, công nhân hóa, trí thức hóa nông dân. Vì vậy, cần hiểu nông dân không chỉ là những người làm nông nghiệp thuần túy mà bao gồm tất cả những người sống ở nông thôn. Đó là đối tượng mà Hội Nông dân Việt Nam cần tập hợp thành lực lượng cơ bản trong việc xây dựng nền nông nghiệp hiện đại.

Các cấp Hội, tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng “Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững”; vận động, hướng dẫn hội viên, nông dân tích cực tham gia tái cơ cấu ngành Nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, “dồn điền, đổi thửa” tạo vùng sản xuất chuyên canh, các cánh đồng lớn, cánh đồng liên kết, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ cao vào sản xuất, chế biến, tiêu thụ, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị nông sản. Hỗ trợ các nguồn lực cho nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi trở thành các doanh nhân làm đầu tàu hướng dẫn, hỗ trợ nông dân nghèo, đồng thời làm nòng cốt để xây dựng mô hình phát triển kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn.

Hỗ trợ thông tin, xây dựng chỉ dẫn địa lý, thương hiệu nông sản và tiêu thụ nông sản cho nông dân: Nâng cao năng lực truyền thông của các cấp Hội; đào tạo, hướng dẫn nông dân sử dụng máy tính, điện thoại thông minh và internet để khai thác, nắm bắt, chia sẻ thông tin, kiến thức, kinh nghiệm về sản xuất, giá cả, thị trường, khoa học, công nghệ, liên kết hợp tác, kết nối cung cầu.

Chủ động phối hợp với các ngành, các doanh nghiệp và nhà khoa học tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, liên kết với các hệ thống siêu thị, các chợ đầu mối… để bao tiêu, tiêu thụ sản phẩm cho nông dân. Vận động xây dựng mỗi cơ sở Hội có ít nhất 1 sản phẩm lợi thế của địa phương theo chuỗi giá trị.

Đẩy mạnh phát triển nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân các cấp, tăng trưởng dư nợ với các ngân hàng; nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn vay. Các cấp Hội tích cực tham mưu cấp ủy, đề xuất với chính quyền hàng năm trích ngân sách bổ sung vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân; tranh thủ vốn ủy thác của Nhà nước, nguồn tài trợ, vốn vay ưu đãi của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.  Tích cực phối hợp với các ngành chức năng giúp người vay sử dụng vốn đạt hiệu quả cao. Chủ động phối hợp với các ngân hàng thực hiện tốt chương trình phối hợp, thỏa thuận đã ký giúp nông dân vay vốn sản xuất, kinh doanh.

Niềm vui được mùa. Ảnh: THÀNH CHUNG

Vận động nông dân liên kết với nhau để tập trung ruộng đất, nâng quy mô sản xuất, phát triển các mô hình kinh tế trang trại, gia trại, tham gia liên kết với doanh nghiệp xây dựng cánh đồng lớn để tạo ra vùng sản xuất hàng hoá tập trung gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời chủ động phối hợp với doanh nghiệp, Nhà nước, ngân hàng, nhà khoa học, nhà phân phối hướng dẫn, hỗ trợ nông dân xây dựng các mô hình trang trại, gia trại, phát triển nông nghiệp bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, nông nghiệp hữu cơ trồng cây dược liệu, gắn sản xuất, kinh doanh nông nghiệp với du lịch, giảm nghèo bền vững…  để nông dân học tập và nhân rộng.

Vận động nông dân tích cực liên kết, hợp tác hình thành các tổ hợp tác, hợp tác xã và các hình thức kinh tế tập thể khác trong nông nghiệp, giúp nông dân liên kết với các doanh nghiệp trong và ngoài nước xây dựng hợp tác xã sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, an toàn thực phẩm theo chuỗi giá trị, theo hướng doanh nghiệp đầu tư hạ tầng, vốn, giống, tiến bộ khoa học kỹ thuật, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, hợp tác xã làm đầu mối ký kết với doanh nghiệp, hướng dẫn nông dân tổ chức sản xuất theo quy trình kỹ thuật, bảo vệ lợi ích cho nông dân. Hướng dẫn nông dân sản xuất, kinh doanh thực phẩm an toàn; đấu tranh, ngăn chặn việc sản xuất thực phẩm không an toàn tạo chuyển biến rõ nét trong nhận thức của nông dân về sản xuất, kinh doanh đảm bảo an toàn thực phẩm bảo vệ sức khỏe, lợi ích cộng đồng.

Mở rộng các hình thức đào tạo nghề thông qua hệ thống khuyến nông, các tổ chức dạy nghề của Hội Nông dân Việt Nam và các tổ chức khác; hỗ trợ các cộng đồng nông thôn xây dựng chương trình dạy nghề và cung cấp thông tin cho lao động nông thôn; đào tạo ngắn ngày ngay tại các doanh nghiệp; đào tạo theo hợp đồng giữa doanh nghiệp với cơ sở đào tạo, nhưng học viên học nghề là do yêu cầu của các doanh nghiệp. Đồng thời, mở các buổi hội thảo, tọa đàm về kinh tế nông nghiệp, giới thiệu các sản phẩm khoa học công nghệ hiện đại cho nông dân, cập nhật kiến thức mới về nền nông nghiệp hiện đại cho nông dân.

Thứ ba, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức, hiểu biết cho cán bộ, hội viên nông dân trong hội nhập quốc tế về sản xuất và xuất khẩu nông sản

Tích cực, chủ động mở rộng và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các tổ chức nông dân, tổ chức quốc tế, tổ chức chính phủ, phi chính phủ và các đại sứ quán nhằm tăng cường tình đoàn kết, tranh thủ sự ủng hộ, thu hút nguồn lực, thúc đẩy hợp tác về kinh tế, chuyển giao khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý, đào tạo nâng cao năng lực cán bộ, hội viên, nông dân, tạo điều kiện để cán bộ, hội viên nông dân tiếp cận với trình độ quản lý tiên tiến, khoa học kỹ thuật hiện đại góp phần đẩy nhanh và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế của nước ta, nhất là khi khi Việt Nam tham gia Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP hay TPP-11) sẽ tạo ra nhiều cơ hội cũng như những thách thức đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, đặc biệt là khi Việt Nam thực hiện đầy đủ các cam kết khi thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, sẽ thay đổi tư duy về sản xuất, kinh doanh của hội viên nông dân theo hướng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới, hiện đại, thân thiện với môi trường, sản xuất ra sản phẩm có chất lượng cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đồng thời tăng cường liên kết theo chuỗi giá trị để làm tăng khả năng cạnh tranh và giá trị gia tăng cho sản phẩm.

Vùng trồng dưa lưới an toàn tại xã An Bình (Châu Thành, Tây Ninh). Ảnh: T.C

Xây dựng và phát triển nông nghiệp thịnh vượng, nông dân giàu có, nông thôn văn minh, hiện đại là hướng đi tất yếu, là khát vọng của nông dân Việt Nam. Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2011 – 2020 đã đề ra mục tiêu đến năm 2020 thành tựu khoa học và công nghệ, đóng góp 50% GDP ngành Nông nghiệp. Sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao và sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chiếm tỷ trọng 50% trong giá trị sản xuất các sản phẩm chủ yếu vào năm 2020. Đại hội Đảng lần thứ XII tiếp tục định hướng “Xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; nâng cao giá trị gia tăng, đẩy mạnh xuất khẩu”. Do đó, Hội Nông dân Việt Nam phải thực sự phát huy vai trò trung tâm và nòng cốt để thực hiện cho được bốn mục tiêu:

Một là, đào tạo nông dân trở thành lực lượng lao động tiên tiến, có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao. Nông dân muốn làm chủ được nền nông nghiệp hiện đại sẽ phải là người sử dụng máy móc rất thành thạo, có trình độ hiểu biết cao về nông nghiệp và kinh tế, thậm chí họ phải là người có học thức cao. Có khả năng ứng dụng thành thạo kỹ thuật trồng trọt, kỹ thuật chăn nuôi để nâng cao chất lượng, sản lượng nông nghiệp.

Hai là, nông dân phải là lực lượng chính trị – xã hội vững mạnh, có đủ bản lĩnh, trình độ và năng lực làm chủ nông thôn, có lòng tự hào dân tộc, ý chí tự cường và khát vọng vươn lên xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Ba là, nông dân phải được hưởng thụ xứng đáng với những công sức và những đóng góp đối với đất nước.

Bốn là, nông dân là lực lượng gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở nông thôn.\

 

Chủ đề:
Bạn đang xem danh mục: Sự kiện, Tin tức hộiDanh mục
Tin cập nhật
Sự kiện
Tam nông
  • Kế hoạch quốc gia phòng, chống bệnh dịch tả lợn châu Phi

    Chủ động giám sát phát hiện sớm, cảnh báo, áp dụng kịp thời, có hiệu quả các biện pháp phòng, chống bệnh dịch tả lợn châu Phi (DTLCP); bảo đảm áp dụng các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh nhằm giảm thiểu tổn thất về kinh tế, hạn chế […]

  • [Infographics] Phát triển nền nông nghiệp hữu cơ bền vững

    Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020-2030 đặt mục tiêu phát triển nền nông nghiệp hữu cơ có giá trị gia tăng cao, bền vững…; sản phẩm nông nghiệp hữu cơ được chứng nhận phù hợp với tiêu chuẩn của khu vực và thế giới. Mục tiêu phát triển trên nhằm […]

  • Nước mắm Lạch Kèn “lên hương” nhờ tham gia sản phẩm OCOP

    Phát huy tiềm năng lợi thế của các xã vùng ven biển và sự tự tin về truyền thống sản xuất nước mắm quê hương, Hợp tác xã (HTX) Thiên Phú (Cương Gián, Nghi Xuân, Hà Tĩnh) đã áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các mô hình chế biến nước mắm, tham […]