15:32 - 31/01/2020

Nông sản Việt và những thách thức khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu

Tăng trưởng ngành Nông nghiệp và xuất khẩu nông sản Việt Nam gần đây

Việt Nam là quốc gia có lợi thế so sánh về nông nghiệp. Kể từ khi Đổi mới, những chủ trương, chính sách tạo động lực phù hợp đã giúp kích hoạt lợi thế tiềm năng này, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế đất nước và hỗ trợ đắc lực cho cải thiện phúc lợi cư dân nông thôn.

Tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam kể từ khi “Đổi mới” khá cao và ổn định (trung bình khoảng 3,3%/năm), không chỉ đáp ứng nguồn cung lương thực, thực phẩm (LTTP) và nguyên liệu cho phát triển (công nghiệp, dịch vụ) CN-DV trong nước mà còn tham gia ngày càng mạnh mẽ vào thị trường xuất khẩu (khoảng 50% sản lượng (nông, lâm, thủy, sản) NLTS được dùng cho xuất khẩu trong 5 năm gần đây).

Hình 1: Tăng trưởng GDP phân theo ngành kinh tế giai đoạn 2011-2018. Nguồn Tổng cục thống kê

Xuất khẩu các mặt hàng NLTS chính (gạo, rau quả, cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều, cao su, thủy hải sản, gỗ và sản phẩm từ gỗ, sắn và sản phẩm từ sắn, thịt, thức ăn chăn nuôi, phân bón), tăng từ 16,48 tỷ USD năm 2008 lên mức 40,02 tỷ USD trong năm 2018, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 11,06%/năm. Trong đó, xuất khẩu nông sản tăng từ 8,75 tỷ USD năm 2008 lên 19,52 tỷ USD năm 2018, tăng trưởng bình quân 12%/năm; thủy sản tăng từ 4,51 tỷ USD năm 2008 lên 9,01 tỷ USD năm 2018, tăng trưởng bình quân 8,91%/năm; lâm sản tăng từ 3,01 tỷ USD năm 2008 lên 9,35 tỷ USD năm 2018, tăng bình quân 12,62%/năm, chăn nuôi xuất khẩu đạt 546 triệu USD 2018, tăng 11,6%.

Với sự tăng trưởng nhanh trong xuất khẩu nên Việt Nam luôn là nước xuất siêu NLTS, bình quân trong 10 năm qua, Việt Nam xuất siêu bình quân 8 tỷ USD/năm, năm 2018 Việt Nam xuất siêu 8,72 tỷ USD (Tổng cục Hải quan). Nông nghiệp là ngành duy nhất có xuất siêu thương mại với mức độ ngày càng tăng, năm 2018 đạt trên 18,7 tỷ USD, giá trị xuất khẩu NLTS 10 tháng đầu năm 2019 đạt 33,3 tỷ USD, xuất siêu 7,3 tỷ USD. Với nguồn cung dồi dào và hội nhập quốc tế sâu rộng, nông nghiệp Việt Nam ngày càng có liên hệ mật thiết với những thay đổi trên thị trường thế giới.

Cơ cấu các mặt hàng NLTS xuất khẩu có sự thay đổi theo hướng gia tăng tỷ trọng các mặt hàng gỗ và sản phẩm từ gỗ, rau quả, hạt điều và giảm tỷ trọng các mặt hàng gạo, cà phê, cao su, chè. Các mặt hàng có tỷ trọng tăng là gỗ và sản phẩm từ gỗ (tăng từ 2,83 tỷ USD chiếm 17,17% năm 2008 lên 8,86 tỷ USD chiếm 22,14% năm 2018), rau quả (tăng từ 406 triệu USD chiếm 2,46% năm 2008 lên 3,81 tỷ USD chiếm 9,53% năm 2018), hạt điều (tăng từ 911 triệu USD chiếm 5,53% năm 2008 lên 3,4 tỷ USD chiếm 8,57% năm 2017) (Tổng cục Hải quan). Trong giai đoạn 2009-2018, thị trường xuất khẩu NLTS mở rộng tăng từ 72 nước, vùng lãnh thổ 2009 tăng lên 180 nước, vùng lãnh thổ năm 2018. Bên cạnh hai thị trường xuất khẩu chính là Trung Quốc chiếm 22%, Hoa kỳ chiếm 18,7% tổng giá trị xuất khẩu NLTS 2018, Việt Nam cũng đã đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường cao cấp như: Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Úc, Canada (Tổng cục Hải quan). Ngoài ra, Tăng trưởng xuất khẩu các sản phẩm chế biến cao là cao su, gỗ, thủy sản nên tỷ lệ xuất khẩu thô giảm, tăng xuất khẩu các sản phẩm qua chế biến. Tỷ lệ nông sản qua chế biến tăng từ 21,75% năm 2008 tăng lên 40,82% năm 2017 (Tổng cục Hải quan).

Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân 12,9% năm (giai đoạn 2009-2018). Một số mặt hàng NLTS của Việt Nam có tỷ trọng về giá trị xuất khẩu và vị trí rất cao trên thế giới như: tiêu, điều, tôm, cá tra, cà phê, đồ gỗ nội thất, lúa gạo. Tuy nhiên thứ hạng về giá xuất khẩu lại rất thấp do phần lớn chúng ta đang xuất khẩu sản phẩm thô như: lúa gạo, cà phê, hạt tiêu, hạt điều.

Vị thế của xuất khẩu của Việt Nam trên thế giới 2017. Nguồn TC-Trademap, Tổng cục Hải quan VN

Tóm lại, nông nghiệp Việt Nam có năng lực cung mạnh mẽ, đã và đang tham gia hội nhập quốc tế ngày một sâu rộng và phụ thuộc ngày càng nhiều vào thị trường NLTS thế giới. Mặc dù, nông sản của Việt Nam đã tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu nhưng mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp đầu vào là nông sản thô, trong khi giá trị gia tăng đối với hàng nông sản lại chủ yếu do khâu chế biến, bao gói và hoạt động thương mại. Nguyên nhân của tình trạng này là công nghệ trước và sau thu hoạch còn lạc hậu nông sản xuất khẩu chủ yếu sơ chế chưa có thương hiệu và chưa đi sâu phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng mà chu yếu cung cấp nguyên liệu cho các nhà nhập khẩu trên thế giới hay các công ty tập đoàn quốc tế …

Cơ hội từ tham gia các FTAs để mở rộng thị trường

Nông nghiệp Việt Nam đã tham gia quá trình hội nhập và toàn cầu hóa hoạt động thương mại trên thế giới với các thế hệ các HĐTM tự do, bắt đầu từ các HĐTM tự do thế hệ thứ nhất tập trung ở việc tự do hóa lĩnh vực thương mại hàng hóa (cắt giảm thuế quan, loại bỏ các rào cản phi thuế), sang các HĐTM tự do thế hệ thứ hai với việc mở rộng phạm vi tự do hóa sang các lĩnh vực dịch vụ nhất định (xóa bỏ các điều kiện tiếp cận thị trường trong các lĩnh vực dịch vụ liên quan), và HĐTM tự do thế hệ thứ ba tiếp tục mở rộng phạm vi tự do về dịch vụ, đầu tư.

Cho đến nay, Việt Nam đã tham gia ký kết 16 HĐTM tự do với 56 quốc gia và nền kinh tế trên thế giới. Đến nay, 12 HĐTM tự do đã có hiệu lực, 1 đang chờ phê duyệt, 3 FTA đang đàm phán. Từ năm 2010, bên cạnh các HĐTM truyền thống, Việt Nam đã tích cực, chủ động tham gia vào các HĐTM thế hệ mới như CPTPP, EVFTA với mức độ hội nhập sâu rộng và toàn diện nhất từ trước tới nay. Trong sân chơi toàn cầu đó, Việt Nam chấp nhận cam kết không bảo hộ và tuân thủ hầu hết các tiêu chuẩn của các quốc gia thành viên và thị trường thế giới. Xu hướng hội nhập quốc tế trong thời gian tới đòi hỏi nông nghiệp Việt Nam phải chấp nhận cạnh tranh ngay lập tức, tuân thủ các tiêu chuẩn các nước đặt ra trong cả ba lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường. CPTPP và EVFTA là hai hiệp định thương mại thế hệ mới, tham vọng lớn là cam kết hầu hết số dòng thuế về 0%, đồng thời, quy định rất nhiều nội dung mới chưa từng được đề cập đến trong đàm phán các FTAs truyền thống. CPTPP và EVFTA sẽ tác động tích cực hoạt động thương mại, xuất khẩu thông qua thúc đẩy các dòng thương mại, đầu tư, chuyển giao công nghệ. EVFTA đã chính thức ký kết vào ngày 30.6.2019 nhưng chưa có hiệu lực.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đang đàm phán các hiệp định FTA khác như: RCEP khởi động từ tháng 3/2013 với các đối tác ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc, New Zealand; hiệp định Việt Nam – EFTA khởi động đàm phán tháng 5.2012 với các đối tác Thụy Sĩ, Na uy, Iceland, Liechtenstein; hiệp định Việt Nam – Israel FTA khởi động đàm phán từ tháng 12.2015.

Cơ hội rất lớn đối với nông nghiệp Việt Nam khi các hiệp định FTA có hiệu lực, đặc biệt là CPTPP và EVFTA. Đối với CPTPP, các nước tham gia cam kết xóa bỏ từ 97% – 100% số dòng thuế nhập khẩu đối với hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam tùy theo cam kết của từng nước. Gần như toàn bộ hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam vào các nước thành viên CPTPP sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu hoàn toàn ngay khi Hiệp định có hiệu lực hoặc theo lộ trình. EVFTA Ngay khi Hiệp định có hiệu lực, Liên minh châu Âu (EU) sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế (tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU). Sau 7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế (tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam). Đối với khoảng 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực. Nhiều mặt hàng nông sản được hưởng lợi ngay như: gạo EU cam kết dành cho Việt nam một lượng hạn ngạch đáng kể đối với gạo xay xát, gạo chưa xay xát và gạo thơm hay dành một lượng hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực như: ngô ngọt, tỏi, nấm, đường và sản phẩm có chứa đường, tinh bột sắn.

Chuỗi giá trị nông sản ở Việt Nam, hạn chế khi tham gia chuỗi giá trị toàn cầu

Nhận thấy tầm quan trọng của liên kết chuỗi trong nông nghiệp từ năm 2012, Chính phủ đã ban hành Quyết định 80/2002/QĐ-TTg về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng, tiếp sau đó là quyết định số 62/2013/QĐ-TTg về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn và gần đây nhất là Nghị định 98/2018/NĐ-CP về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Tuy nhiên, số lượng các mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm rất ít, kết quả tổng điều tra nông nghiệp năm 2016 cả nước có 2,262 mô hình liên kết cánh đồng mẫu lớn (trong đó tập trung chính ở các cây trồng lúa 1.661 mô hình, Ngô 50 mô hình, mía 95 mô hình, chè búp 38 mô hình, rau các loại 162 mô hình, các cây trồng khác 256 mô hình). Tuy nhiên, số lượng mô hình được ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm lại rất thấp (lúa chỉ 26,5%, rau các loại 10,8%, chè búp 53,3%, cao nhất mía đạt 93%, các cây trồng khác đạt khoảng 50,5%).

Chuỗi giá trị nông sản rất cần sự tham gia của doanh nghiệp ở tất cả các khâu từ khâu cung cấp đầu vào – sản xuất – sau thu hoạch, sơ chế – chế biến – phân phối (xuất khẩu, trong nước). Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nước ta còn rất nhỏ khi chỉ chiếm khoảng 1% tổng số doanh nghiệp (tổng số DN NLTS đạt 9,235 năm 2018). Hầu hết trong số đó chỉ chủ yếu tham gia vào khâu thu gom, sơ chế và tiêu thụ mà ít tham gia đầu tư vào nông nghiệp, nhất là công đoạn sản xuất.. Ở hầu hết các khâu trong chuỗi giá trị có rất nhiều hạn chế, cụ thể:

– Dịch vụ đầu vào: chi phí quá cao, (vật tư không đúng chủng loại, giá cao), sử dụng vật tư và tài nguyên chưa hợp lý, tình trạng phân bón, thuốc BVTV kém chất lượng.

– Khâu sản xuất: sản xuất quy mô nhỏ, manh mún, thiếu liên kết, sản xuất không đúng quy trình kỹ thuật, sản phẩm không đồng nhất, ứng dụng công nghệ hạn chế, hạ tầng thiếu và yếu. Dẫn tới sản xuất không hiệu quả chi phí cao, chất lượng sản phẩm thấp

– Khâu sau thu hoạch: nhiều tầng trung gian, liên kết yếu, sơ chế chưa được quan tâm, đóng gói, bảo quản, vận chuyển kém. Dẫn tới chi phí giao dịch cao, tổn thất sau thu hoạch lớn

– Khâu chế biến: thiếu thông tin, thiếu hệ thống giám sát tiêu chuẩn, tổn thất cao, chế biến tinh chưa phát triển, trình độ công nghệ lạc hậu, sản phẩm chưa gắn với nhu cầu thị trường nên giá trị gia tăng của các sản phẩm chế biến chưa cao.

– Khâu phân phối: xuất khẩu (quản lý chất lượng kếm, thiếu hệ thống truy xuất nguồn gốc, xuất khẩu sản phẩm thô không có thương hiệu); thị trường trong nước (thiếu hiểu biết về nhu cầu, thị hiếu thị trường, không đi sâu được vào chuỗi giá trị, các rào cản phi thuế quan).

Chế biến, sơ chế hoa quả để giữ được sản phẩm tươi ngon ngay sau khi thu hoạch là yêu cầu căn bản cho xuất khẩu nông sản. Ảnh: Danh Lam

Như vậy, với nhiều hạn chế của chuỗi giá trị nông nghiệp trong nước đã gây nhiều khó khăn khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Một số nguyên nhân cản trở sự tham gia của doanh nghiệp xuất khẩu nông sản của Việt Nam sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu: (1) Phần lớn các doanh nghiệp nông nghiệp có quy mô sản xuất nhỏ, nguồn lực (vốn, con người) hạn chế, hiểu biết về thị trường quốc tế còn hạn chế. (2) Công nghệ bảo quản, chế biến nông sản làm cho chất lượng hàng hóa xuất khẩu chưa đảm bảo tiêu chuẩn và khó tiếp cận những thị trường khó tính, các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là sơ chế, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu vẫn phải qua trung gian là các công ty đa quốc gia; (3) Rất ít sản phẩn nông sản xuất khẩu có thương hiệu và được bảo hộ ở quốc tế; (4) Kênh hỗ trợ tư vấn doanh nghiệp còn hạn chế, nhất là những tư vấn hỗ trợ liên quan đến phát triển thị trường, kết nối đầu tư, tiêu chuẩn xuất khẩu, tranh chấp thương mại… (đặc biệt là các hiệp hội ngành hàng, chưa có vai trò trong hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường xuất khẩu).

Kiến nghị giải pháp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu

Với xu hướng trong tương lai, các doanh nghiệp và người sản xuất cần nhận thức rõ nông nghiệp Việt Nam không thể tiếp tục duy trì lợi thế bằng khai thác tài nguyên và giá rẻ. Do đó doanh nghiệp cần chuẩn bị sẵn sàng năng lực cạnh tranh mới khi tham gia HNQT ngày một sâu rộng. Để có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu thì trước hết sản phẩm chúng ta sản xuất chế biến phải đáp ứng, đảm bảo tuân thủ các quy định ngày càng khắt khe của thị trường cả về kinh tế, xã hội và môi trường của thị trường toàn cầu. Do đó, nhà nước cần có chính sách hỗ trợ đào tào tập huấn khuyến khích các hộ sản xuất áp dụng các thực hành tốt, tiêu chuẩn bền vững. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu để tiếp tục cơ cấu lại sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường thế giới nhất là những sản phẩm giá trị dinh dưỡng cao, nhu cầu lớn (rau quả, thịt, trứng, sữa, thủy sản), thực phẩm chế biến, đồ nội thất, sản phẩm hữu cơ, thực phẩm chức năng, hóa mỹ phẩm. Bên cạnh đó Việt Nam cần tiếp tục triển công nghiệp chế biến NLTS, xây dựng liên kết chuỗi giá trị và có chính sách bảo hiểm thích hợp để xử lý rủi ro, biến động thị trường ngày càng mạnh. Xây dựng chương trình quốc gia về phát triển chuỗi giá trị các sản phẩm nông sản chiến lược từ sản xuất đầu vào đến dịch vụ hỗ trợ. Đồng thời cũng cần phải có những kênh hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong triển thị trường, kết nối đầu tư.

Hạt điều nằm trong nhóm hàng xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD.

Bên cạnh đó các DN Việt Nam phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, nhận thức rõ những cơ hội và thách thức để mở rộng thị trường, vươn ra thế giới. Theo đó, DN cần quan tâm tới các vấn đề khác nhau trong việc nâng cao kiến thức, đổi mới doanh nghiệp. Cụ thể:

+ Thứ nhất, nhận thức đầy đủ về các ưu đãi về thuế quan, lộ trình áp dụng và những điều kiện cụ thể để được hưởng các ưu đãi từ CPTPP và EVFTA.

+ Thứ hai, lường trước áp lực cạnh tranh gay gắt từ các DN nước ngoài.

+ Thứ ba, cải thiện hiệu quả quản trị DN, ứng dụng công nghệ, nâng cao các tiêu chuẩn hoạt động của mình để đáp ứng yêu cầu cao của các FTA thế hệ mới.

+ Thứ tư, chủ động tìm kiếm các đối tác phù hợp, thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, nhằm tận dụng hiệu quả nguồn vốn và chuyển giao công nghệ từ các đối tác nước ngoài; đồng thời, tìm kiếm các cơ hội tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng trong khu vực và toàn cầu.

TS. Trần Công Thắng – Viện trưởng – Viện Chính sách và Chiến lược PTNNN

Chủ đề:
Bạn đang xem danh mục: Bàn tròn
Tin cập nhật
  • Hội Nông dân TP. Hồ Chí Minh hưởng ứng “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ”

    Sáng ngày 24/5, tại TP. Hồ Chí Minh, Hội Nông dân TP. HCM phối hợp UBND huyện Bình Chánh và huyện Củ Chi tổ chức lễ phát động thực hiện công trình “Xây dựng tuyến đường điểm xanh – sạch – đẹp” và hưởng ứng “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” trên […]

  • Giải pháp để HTX tham gia xử lý môi trường làng nghề

    Theo kết quả phản hồi từ 300 HTX do Viện Phát triển Kinh tế Hợp tác (Liên minh HTX Việt Nam) điều tra khảo sát năm 2019 tại 10 tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng cho thấy các HTX đều mong muốn được hỗ trợ chuyển giao công nghệ xử lý rác thải. Thực trạng […]

  • Nghệ nhân trẻ đam mê nghề tạc tượng truyền thống

    Bằng niềm đam mê văn hóa truyền thống cộng đồng J’rai, anh Ksor Khoa đã xây dựng một cơ sở tạc tượng gỗ nhằm cung ứng cho khách du lịch, những người yêu thích văn hóa nghệ thuật dân gian ngay tại nhà ở làng Chuet 2 (phường Thắng Lợi, Tp. Pleiku, tỉnh Gia Lai). […]

Sự kiện
Tam nông
  • Điểm sáng trong cách tiếp cận dạy nghề nông nghiệp

    Cà Mau là tỉnh nông nghiệp thuần túy, để hỗ trợ tái cơ cấu nông nghiệp, phát triển kinh tế thế mạnh của địa phương, hạn chế bất lợi của thời tiết tỉnh đã xoay việc đào tạo nghề nông nghiệp theo hướng canh tác mới, hiện đại. Có nghề nông dân thay đổi sản […]

  • Tăng giá trị nhờ nuôi tôm công nghệ cao

    Phong trào nuôi tôm công nghệ cao tại tỉnh Bạc Liêu đã phát triển mạnh mẽ từ năm 2017 với sự tham gia của các doanh nghiệp, đa phần hộ nông dân đều thành công và năng suất đạt rất cao. Nhờ có sự liên kết trong sản xuất theo chuỗi nên đã mở ra […]

  • Hỗ trợ kỹ thuật trồng chanh dây leo cho nông dân Trà Vinh

    Ngày 08/5/2020, tại tỉnh Trà Vinh, Hội Nông dân tỉnh Trà Vinh phối hợp với Công ty TNHH XNK Chanh leo tổ chức hội thảo, tập huấn với chủ đề: Hỗ trợ kỹ thuật trồng chanh dây leo cho nông dân tại huyện Tiểu Cần và huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Đến dự có […]