16:07 - 18/07/2020

Nhìn nhận và ứng xử với tục cải táng

“Tục cải táng, tuy đã thành một tập tục phổ biến và tồn tại lâu dài của người Kinh như một truyền thống cố hữu, nhưng đó không phải là một truyền thống đẹp. Nó là ngoại lai…”.

Ông Nguyễn Hùng Vĩ.

Đó là chia sẻ của ông Nguyễn Hùng Vĩ – nhà nghiên cứu văn hoá, nguyên giảng viên Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) về tập tục cải táng (bốc mộ) – câu chuyện vốn có rất nhiều ý kiến khác nhau trước nhu cầu nhìn nhận lại và ứng xử hợp lý đối với vấn đề tế nhị này, đặc biệt là trong bối cảnh cả nước ta đang xây dựng nông thôn mới hiện nay.

Trong nhiều ý kiến về nguồn gốc của tập tục này, nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vĩ cho rằng, nhìn nhận theo cách như vừa nói trên là hữu lý hơn cả.

Thưa ông, từ những cơ sở nào để có thể nhìn nhận tập tục này có nguồn gốc “ngoại lai” chứ không phải là yếu tố nội sinh?

Trước hết, nó là những tập tục của một bộ phận người Tàu lưu vong, di thực xuống phương Nam trong trường kỳ lịch sử, cụ thể người ta gọi đó là người Khách gia – một bộ phận người Hán cổ xưa, những gia đình, gia tộc là lưu dân từ phương Bắc xuống phương Nam.

Khảo cổ học thời kỳ văn hóa Đông Sơn chưa phát hiện tập tục cải táng này.

Bộ phận người Hán này di thực xuống phương Nam, do bất ổn, loạn lạc và cũng do chiến tranh xâm lược trong quá khứ. Có nhiều đợt di dân lớn đáng để ý:

Nhà Tấn (265 – 420) có hàng vạn người và có chính sách thực dân hẳn hoi. Câu “tam nam bất phú, ngũ nữ bất bần” xuất hiện trong chính sách di thực này, vẫn còn lưu truyền lại đến nay. Nhà sinh ba con trai thì hai đứa phải đi lính nghĩa vụ, nhà sinh năm con gái thì nhà nước cho tiền bạc, ruộng đất khi trưng dụng hai đứa xuôi Nam để theo lính, thành lập gia đình Khách gia.

Đời Đường (608 – 907) các đợt xâm lăng và di dân càng nhiều hơn, phủ gần kín Bắc Bộ và lập An Nam đô hộ phủ.

Đời Tống (960 – 1279), khi loạn lạc, lưu dân tràn xuống rất nhiều.

Phong tục Hán thờ gia tiên rất nặng nề. Bố mẹ ở đâu, chôn đâu thì chắc chắn con phải ở đó để chăm sóc mồ mả, cha mẹ, ông bà, tổ tiên.

Trong tình trạng lưu tán do chiến tranh loạn lạc, khi không ở đất cũ (gọi là cố hương) để thể hiện hiếu đạo, có một ứng xử bất thường là phải đào mộ lên, đem xương cốt đi theo đến cùng đất mới táng lại để thờ tự, chăm sóc.

Đó là lý do vì sao nói tập tục cải táng có nguồn gốc ngoại lai.

Dấu tích của tập tục này trong quá khứ ở Việt Nam được biểu hiện như thế nào, thưa ông?

Dấu tích thời nhà Đường còn để lại rất rõ trên một di vật khảo cổ học độc đáo là hũ gốm có 4 đến 6 tai để xỏ dây treo. Những chiếc hũ này được phát hiện rộng khắp các vùng cửa sông như sông Hồng, sông Mã, sông Lam, sông Gianh… Được chôn thành dãy, trong hũ còn dấu vết xương người.

Đó là hài cốt tổ nả mà người Khách gia đã cho xuống thuyền xuôi Nam khi lưu tán. Lâu dần thành tục cải táng vì phải luôn sẵn sàng cho các cuộc chạy loạn. Cải táng thường chôn nông, dễ đào. Chiếc tiểu sành ra đời thay cho cái hũ, nhưng vẫn giữ dấu vết các dãy lỗ để xỏ dây.

Mặt khác, với tâm lý “cáo chết ba năm quay đầu về núi”, người ta cũng cải táng để khi cần, lại đem về táng ở “quê cha đất tổ”. Tài liệu từ đời Trần để lại, các thế hệ dòng họ này khi chưa được nước từ nhà Lý, vẫn di chúc khi mất, về chôn ở phương Bắc. Người ta cải táng để vốn là dành cho việc vận chuyển tiện lợi.

Lâu ngày việc này thành tục và người ta học theo nhau, thực hành mà quên gốc gác rất thực tế đó đi. Việc này dẫn đến việc mê tín, bói toán, cúng quải, cỗ bàn, công sá… vô cùng phiền phức, tốn kém và mất vệ sinh. Bỏ việc này đi là thực hành bài trừ được một thành phần mê tín sai lầm.

Ảnh minh họa.

Hiện nay, cả nước đã về đích trong xây dựng nông thôn mới và đang xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu, nông thôn mới nâng cao, xu hướng đô thị hoá cần thêm không gian và môi trường cho nhu cầu của người sống, theo ông, tập tục này nếu bỏ đi, thì ảnh hưởng như thế nào?

Tôi nhớ cách đây 20 năm, Sở Công nghệ và Môi trường tỉnh Thái Bình có một tính toán đáng lưu ý: Nếu cứ mỗi người chết, có mộ cát táng là 1,2m2, thì tính đến năm 2150, cả tỉnh Thái Bình sẽ hết sạch đất đai, cả tỉnh sẽ là một nghĩa trang rộng lớn. Đó là tính diện tích mộ khiêm tốn nhất và đã tính đến cả việc biển bồi một cách tự nhiên, còn biển tiến thì không biết thế nào. Câu chuyện môi trường nằm ở đó, chưa kể là vệ sinh phòng dịch khi bốc mộ.

Cuối thế kỷ trước, các lão thành cách mạng ở miền Trung thường di chúc là chôn một lần, mộ gắn xi măng chặt. Nhưng rồi được dăm mười năm, hoặc do con cháu tin thầy cúng thầy bói, hoặc nơi thì do quy hoạch công trình dân dụng, thế là lại đào lên, táng lại. Khó khăn, tốn kém.

Một câu chuyện khác, có ông anh làm lãnh đạo Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nội, sang huyện Đông Anh tuyên truyền về đúng việc này. Mọi người lắng nghe chăm chú. Tan cuộc, các bô lão ra hành lang túm tay áo nói: “Bác nói thật hay, thật có lợi, thật văn minh… nhưng bác nên về góp ý các ông to bà lớn làm trước đi là dân theo ngay. Không đâu dễ như dân ta đâu, cứ đảng viên đi trước, thì làng nước sẽ theo sau ào ào”.

Đúng là không đâu dễ như dân ta…

Nhưng, một tập tục đã tồn tại lâu đời và đã có hệ lụy lâu đời thì việc cải biến đi cũng khó. Nhưng khó, không phải không làm được, dần dần rồi sẽ làm được. Tôi đã được mời đọc một di chúc của một vị trí thức, ông dặn con cháu hỏa táng, tro rải xuống sông Hồng, một ít tro cho vào chiếc lọ bạc nhỏ, chạm khắc, có giá một triệu hai trăm nghìn đồng, bỏ lên bàn thờ mà thờ tự, bố sẽ luôn luôn phù hộ cho con cháu. Họ đã làm như vậy và rất ổn.

Một số nghĩa trang như ở Thạch Bàn, người ta xây những bức tường đứng, có hốc để bỏ tro cốt, bia và ảnh, sạch sẽ, lịch sự, tiết kiệm đất đai. Các cụ quần tụ ở đó có mình có ta, sum vầy ấm cúng. Đó là một điều rất nên. Nơi khác, người ta gửi chùa chiền… Trên thực tế, nhiều vùng đã làm tốt.
Tôi cũng đã dặn cháu con, sau này chỉ cần dành cho tôi một chỗ đúng bằng nửa trang báo thôi trong nghĩa trang khiêm tốn 35m2 của toàn gia (dù quê tôi đất đồi mênh mông). Và tương lai, tôi nghĩ người ta nên có cách táng người thân bằng một trang mạng thiêng liêng, kính cẩn, lưu giữ hình ảnh và thể hiện tâm hồn thành kính của mình lên đó. Tới đây, video clip rồi sẽ thành một kỹ năng cho tất cả mọi người.

Nhìn từ góc độ tâm linh, ông thấy có những trở ngại nào, nếu đặt vấn đề là “gạn đục khơi trong” đối với tập tục này?

“Tâm linh” là một khái niệm rất khó lường, và với xã hội Việt Nam hiện nay, nó đang bị lạm dụng rộng rãi để buôn thần bán thánh. Tôi ít dùng khái niệm này để bao hàm cho tự do tín ngưỡng. Tôi chỉ nghĩ, làm cha làm mẹ, làm ông bà tổ tiên ở thế giới bên kia thì bao giờ cũng rộng lượng, cũng có tấm lòng phù hộ cho con cái sống tử tế, làm ăn phát đạt, quan hệ trong một xã hội văn minh và hạnh phúc. Mình thờ tự, giỗ chạp, giữ gìn kỷ niệm một cách thành tâm là sẽ được phúc đức dõi truyền.

Năm ngoái tôi đi Chiềng Mai – Thái Lan, được nghe tỉnh trưởng tỉnh này đàm luận. Ông nói, thành phố vừa ra luật là trong nội thành, không ai được phép xây nhà cao quá 4 tầng với chiều cao là x… Những công trình đã xây cũ vượt chiều cao được phép tồn tại, không phải đập của ai. Và tất cả đã tuân thủ vì đó là luật pháp.

Nếu đã thấy việc bỏ tục cải táng là hợp lẽ, hợp tình, hợp lòng dân thì các thiết chế văn hóa cần vào cuộc, cần bàn bạc, hướng dẫn và tổ chức thực thi. Khi cần thiết cần phát huy hiệu quả của quy chế “luật” song hành với với việc hình thành quy ước “lệ” mới.

Với việc nêu ra những quy ước mới, thì vai trò của thôn, xã, huyện… là rất quan trọng.

Tục cải táng là một tập tục, nó thuộc về tín ngưỡng. Nhưng không phải tín ngưỡng nào cũng hàm chứa những giá trị tốt đẹp. Có những tín ngưỡng đậm tính chất mê tín, mất vệ sinh, phản y khoa, ảnh hưởng thuần phong mỹ tục, thậm chí phản nhân văn. Trong khái niệm văn hóa, từ cội rễ của nó, đã hàm chỉ việc đem cái tốt, cái đẹp, cái có giá trị (văn) để tuyên truyền, phổ biến, giáo hóa cho xã hội, loại bỏ dần những hủ tục lạc hậu. Văn hóa mãi mãi phát triển theo xu hướng đó, người hoạt động văn hóa phải hành động theo tôn chỉ đó để đem đến một xã hội ngày càng văn minh.

Trong lịch sử phát triển nhân loại, biết bao nhiêu tập tục mang yếu tố dã man, bạo lực, mê tín, lạc hậu đã được thay thế dần để hình thành những tập tục mới tốt đẹp hơn. Một thiết chế chính trị lấy triết lý vì dân thì chắc chắn về văn hóa cũng phải có những bước vận động và phát triển để cuộc sống nhân dân văn minh hơn, hạnh phúc hơn.

Tục cải táng ngày càng lộ rõ là một hủ tục trong tổng thể tín ngưỡng. Cần phải làm khác đi. Cần phải loại bỏ nó. Cần thay thế nó bằng các hình thức văn minh hơn. Dù khó khăn nhưng nếu chúng ta có cách, chúng ta vẫn có thể dần dần cải biến được. Vì đây là điều sẽ dần hợp lòng dân và rất nên làm.

Xin cảm ơn ông!

Nam Phong (thực hiện)

Chủ đề:
Bạn đang xem danh mục: Văn hóa
Tin cập nhật
Sự kiện
Tam nông
  • Hội ND Nghệ An: Xây dựng tổ hội nghề nghiệp, hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu cây trồng

    Hướng tới hỗ trợ hội viên phát triển kinh tế hộ theo chuỗi giá trị, liên kết các lĩnh vực ngành nghề, thời gian qua, Hội Nông dân (ND) huyện Thanh Chương (Nghệ An) đã triển khai các giải pháp cụ thể để xây dựng chi hội ND, tổ hội ND nghề nghiệp. Đẩy mạnh […]

  • Thực hiện 3 có, 3 không để sản xuất, kinh doanh tiêu thụ nông sản, thực phẩm an toàn

    An toàn thực phẩm (ATTP) là nhiệm vụ hết sức cần thiết đối với toàn xã hội. Xác định được tính cấp thiết của vấn đề đó, giữa tháng 7.2020 Hội Nông dân tỉnh  Nghệ An đã phối hợp với UBND huyện Nghi Lộc phát động phong trào “Nông dân Nghệ An sản xuất, kinh […]

  • Đánh thức Đồng Chum

    Là xã vùng cao của huyện Đà Bắc, những năm qua, xã Đồng Chum đã khai thác tốt những tiềm năng, lợi thế của riêng mình để phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế rừng. Lợi thế từ rừng “vàng” Ông Lường Văn Thịnh – Chủ tịch UBND xã Đồng Chum cho biết: […]