22:21 - 11/03/2018

Nguồn thu từ thuế bảo vệ môi trường được chi ra như thế nào?

Tuy số tiền thuế Bảo vệ môi trường (BVMT) không được để riêng dành cho nhiệm vụ BVMT mà nộp toàn bộ vào ngân sách nhà nước (NSNN), song nhìn vào con số thống kê có thể thấy, chi từ NSNN cho các nhiệm vụ về BVMT luôn lớn hơn số thu về.

Nhiều hoạt động BVMT sử dụng kinh phí xuất ra từ NSNN. Ảnh: internet.

Luật Ngân sách nhà nước quy định các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật được tổng hợp đầy đủ vào cân đối NSNN, theo nguyên tắc không gắn với nhiệm vụ chi cụ thể.

Số liệu của Bộ Tài chính cho thấy, tổng chi NSNN cho các nhiệm vụ bảo vệ môi trường (BVMT) giai đoạn 2012 -2016 (bao gồm cả các khoản vay, viện trợ đã đưa vào NSNN để chi thường xuyên cho BVMT hoặc chi đầu tư phát triển BVMT; chưa tính chi các hoạt động kinh tế, chi đầu tư phát triển, chi dự phòng của ngân sách địa phương (NSĐP) cho các nhiệm vụ BVMT và các khoản vay, viện trợ chi trực tiếp cho dự án về BVMT không đưa vào NSNN) khoảng 131.857 tỷ đồng, bình quân khoảng 26.371 tỷ đồng/năm, cao hơn số thu thuế BVMT giai đoạn 2012 – 2016.

Trong đó, tổng số chi thường xuyên cho BVMT khoảng 89.131 tỷ đồng, gồm: Chi thường xuyên từ NSNN (NSTW và NSĐP) bố trí trực tiếp cho sự nghiệp BVMT (không quá 1% tổng chi NSNN) khoảng 52.420 tỷ đồng; Chi các hoạt động kinh tế của NSTW (gồm chi thực hiện các dự án điều tra, đánh giá về đất đai, địa chất khoáng sản, tài nguyên nước, biển và hải đảo,… bố trí trong dự toán chi NSNN hàng năm của Bộ Tài nguyên và Môi trường; chi thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu (2012 – 2016), Chương trình mục tiêu quốc gia sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (2012 – 2016), Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững (2016); chi thực hiện các chính sách quản lý sử dụng đất trồng lúa, phát triển rừng, quản lý khai thác gỗ rừng tự nhiên, hỗ trợ khai thác, nuôi trồng hải sản, duy tu đê điều, khuyến nông, công ích thủy nông) khoảng 36.711 tỷ đồng.

Tổng chi đầu tư phát triển của ngân sách trung ương (chi cho các chương trình, dự án theo ngành, lĩnh vực quản lý tập trung ở 2 ngành: Ngành tài nguyên và môi trường và ngành cấp nước và xử lý rác thải, nước thải và chi lồng ghép từ nhiều chương trình như Chương trình nước sạch và vệ sinh nông thôn, Chương trình khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường, Chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu,…) khoảng 24.246 tỷ đồng.

Tổng chi từ dự phòng ngân sách trung ương để phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hỗ trợ các địa phương xử lý các nhiệm vụ đột xuất, cấp bách trong năm như đê kè, hồ chứa,… cho giai đoạn 2012 – 2016 khoảng 18.480 tỷ đồng.

Ngoài ra còn một số nội dung, nhiệm vụ do NSNN chi trả góp phần BVMT như: Các dự án, chương trình khoa học công nghệ ứng dụng công nghệ xanh, bền vững,…

Theo đó, thực hiện chính sách thuế BVMT đã góp phần động viên hợp lý đóng góp của xã hội, tạo thêm nguồn thu cho NSNN để giải quyết vấn đề môi trường với nhu cầu ngày càng tăng.

Có thể nói, với vai trò là một công cụ kinh tế, thuế BVMT thể hiện định hướng, điều tiết của Nhà nước đối với việc tiêu dùng một số sản phẩm, hàng hóa gây ô nhiễm môi trường. Qua hơn 5 năm triển khai thực hiện, chính sách thuế BVMT đã cơ bản đạt được những yêu cầu khi ban hành, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế bền vững, giảm thiểu các tác động có hại đến môi trường sinh thái, phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới.

Trên thực tế, nhiệm vụ chi cho BVMT từ NSNN tăng dần trong giai đoạn 2012 – 2016. Tổng chi NSNN cho các nhiệm vụ BVMT giai đoạn này (khoảng 131.857 tỷ đồng, bình quân khoảng 26.371 tỷ đồng/năm), cao hơn số thu thuế BVMT thu được (khoảng 105.985 tỷ đồng, bình quân 21.197 tỷ đồng/năm).

H.Vân
Chủ đề:
Tin cập nhật
Sự kiện
Tam nông