11:18 - 23/07/2020

Muốn “tử tế”, cần có tiêu chuẩn rõ ràng

“Chúng ta thường nói là làm theo tiêu chuẩn. Nhưng tiêu chuẩn nào? Nhà nước chỉ ban hành tiêu chuẩn chung, nhưng tiêu chuẩn thực sự phải do người mua quyết định. Như BigC yêu cầu tiêu chuẩn VietGAP, Aeon mail đòi hỏi tiêu chuẩn cao hơn, họ đưa tiêu chuẩn vào trong hợp đồng và HTX thực hiện. Phải có tiêu chuẩn rõ ràng thì mới tránh được tình trạng bẻ kèo…”.

TS. Đào Thế Anh – Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.

Đây là một trong những nội dung trong cuộc trao đổi của Tạp chí Nông Thôn Mới với TS. Đào Thế Anh – Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam về chủ đề “Làm nông nghiệp tử tế”.

Quan điểm của Tiến sĩ, thế nào là nông dân tử tế, nông nghiệp tử tế?

Sản xuất nông nghiệp tử tế là xu hướng tất yếu đang được nhiều nông dân, nhà sản xuất, kinh doanh, trang trại hướng tới việc đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội. Nói tử tế, thì phải đặt vấn đề là tử tế với ai? Đó là: tử tế với người tiêu dùng; tử tế với môi trường sinh thái; tử tế với chính mình.
Suốt mấy chục năm qua, canh tác thâm canh và tình trạng sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều đã gây mất an toàn thực phẩm, gây ô nhiễm môi trường đất đai, nguồn nước, ô nhiễm nguồn lực sản xuất và ảnh hưởng đến bản thân sức khỏe của nông dân.

Sản xuất nông nghiệp tử tế, trước hết phải giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, canh tác phải đảm bảo an toàn thực phẩm. Sản xuất ra sản phẩm chất lượng và an toàn thôi thì chưa đủ, còn phải cung cấp thông tin minh bạch đến người tiêu dùng thì người ta mới tin được. Hiện nay, nhờ công nghệ thông tin, mọi người tiêu dùng đều có smartphone, nên người sản xuất nông nghiệp dễ dàng đưa thông tin đến với người tiêu dùng. Thứ hai, tử tế với môi trường, nguồn lực sản xuất. Những năm gần đây, trên thế giới người ta nói nhiều đến việc phải tôn trọng sức khỏe của đất, đặc biệt trong điều kiện biến đổi khí hậu. Canh tác nông nghiệp phải cân đối giữa phân bón vô cơ và phân bón hữu cơ, hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, đảm bảo tính bền vững để trong tương lai con cháu vẫn tiếp tục sản xuất nông nghiệp được. Thứ ba, là tử tế đối với chính mình và gia đình mình. Sử dụng nhiều hóa chất sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của chính người sản xuất, thậm chí có những nông dân bị ung thư.

Nhiều nông dân sau thời gian chuyển sang sản xuất nông nghiệp hữu cơ thì họ phát biểu rằng: thấy khỏe hơn. Tại nhiều nước châu Âu, người ta còn mở rộng thêm nhiều yêu cầu khác nữa, như: bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ, thanh niên tham gia vào nông nghiệp.

Nói nông nghiệp tử tế, thì phải đề cập đến chuỗi giá trị và phải là mối quan hệ qua lại giữa người sản xuất và người tiêu dùng, chứ không phải chỉ một chiều. Đòi hỏi nông dân tử tế, thì người tiêu dùng cũng phải tử tế. Người sản xuất đầu tư vào sản xuất an toàn với chi phí cao, giá thành cao, thì người tiêu dùng phải tôn trọng, bằng cách bỏ tiền ra mua với giá cao hơn so với thực phẩm không an toàn. Nếu đầu tư vào sản xuất chi phí cao, giá thành cao mà không ai mua thì người ta cũng sẽ không sản xuất nữa.

Tình trạng sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều đã gây ô nhiễm môi trường đất đai, nguồn nước. Ảnh: tư liệu.

Những mô hình canh tác nông nghiệp nào được coi là tử tế, thưa ông?

Nông nghiệp tử tế có nhiều mô hình khác nhau: nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp tự nhiên, nông nghiệp bảo tồn, VietGAP, GlobalGAP… Trên thế giới người ta sử dụng khái niệm nông nghiệp sinh thái, bao gồm những mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ, hoặc chưa đạt đến hữu cơ nhưng sử dụng ít hóa chất sao cho phù hợp, cân đối giữa hữu cơ và vô cơ. Dạng nông lâm kết hợp, VAC của mình thời trước cũng là một dạng nông nghiệp sinh thái. Nông nghiệp tự nhiên thì còn cao hơn cả hữu cơ, vì hoàn toàn không bón cái gì. Khu vực miền núi có khái niệm nông nghiệp bảo tồn, tăng sự che phủ để giảm xói mòn trên đất dốc. Các mô hình nông nghiệp công nghệ cao áp dụng những nguyên lý sinh thái thì cũng được xếp vào nông nghiệp tử tế. Trong đó, mô hình nông nghiệp chính xác, sử dụng các thiết bị cảm biến để theo dõi các yếu tố nhu cầu về dinh dưỡng, độ ẩm để bổ sung ở mức hợp lý, không cung cấp dinh dưỡng quá mức, vừa tiết kiệm được chi phí sản xuất, vừa không gây ô nhiễm môi trường.

Trong đó nông nghiệp hữu cơ là xu hướng nổi bật nhất. Nhưng dân số ngày càng tăng cao, nhu cầu lương thực, thực phẩm ngày càng tăng về khối lượng. Bởi vậy, không thể tất cả đều canh tác hữu cơ và nông nghiệp tự nhiên được, vì canh tác hữu cơ năng suất rất thấp, sản lượng lương thực sẽ không đủ để đáp ứng nhu cầu của con người. Đề án nông nghiệp hữu cơ của nước ta đề ra mục tiêu 2% diện tích đất canh tác đạt nông nghiệp hữu cơ. Cũng có một số nước, như Đan Mạch họ tuyên bố làm 100% hữu cơ, đấy là do dân số họ ít, nhu cầu lương thực thực phẩm không căng thẳng nên họ mới dám đưa ra mục tiêu như vậy.

Các nhà nghiên cứu đã chứng minh, khi chuyển từ nông nghiệp vô cơ sang hữu cơ thì thời gian đầu đất chưa được cải tạo, năng suất sẽ giảm đi. Nhưng khi đã thành thục rồi, thì thậm chí sản xuất nông nghiệp hữu cơ vẫn có thể đảm bảo năng suất không kém gì canh tác vô cơ. Như lúa, bây giờ năng suất lúa ở Việt Nam đã “kịch trần” rồi, lúa Việt Nam đạt năng suất cao nhất châu Á, vì vậy nếu có tăng lượng phân bón vô cơ nữa thì cũng không thể tăng được năng suất, mà chỉ gây ô nhiễm thôi. Hiện nay, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đang bắt đầu triển khai dự án nghiên cứu hỗ trợ chuyển đổi nông nghiệp sinh thái khu vực châu Á, với sự tài trợ của cộng đồng châu Âu và Pháp thông qua các gói kỹ thuật và nghiên cứu tác động chính sách nhằm hỗ trợ chuyển đổi nông nghiệp tại các nước Việt Nam, Lào, Campuchia và Mianma. Quá trình chuyển đổi sẽ có giai đoạn giảm năng suất, vì vậy cần hỗ trợ nông dân, không chỉ khuyến khích bằng lời nói tuyên truyền mà phải có các giải pháp kinh tế, làm thế nào để nông dân vẫn đảm bảo được thu nhập khi chuyển từ vô cơ sang hướng sinh thái hữu cơ.

Ngay với canh tác hữu cơ cũng vẫn còn những quan niệm khác nhau. TH có khu vực sản xuất rau VieGAP và GlobalGAP ứng dụng nhà kính, nhưng khu vực sản xuất rau hữu cơ của họ không sử dụng nhà kính, nhà lưới. Nhưng cũng có người cho rằng, sản xuất hữu cơ nên sử dụng nhà kính, áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật để ngăn ngừa dịch bệnh, tránh sử dụng thuốc trừ sâu. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

Sản xuất hữu cơ tận dụng các nguyên lý về sinh thái, có quy chuẩn, có danh mục các giống, phân bón sử dụng, yêu cầu dùng các giống bản địa, phân hữu cơ vi sinh. Trong nông nghiệp hữu cơ vẫn cho phép sử dụng các hóa chất khoáng, nhưng phải là khoáng tự nhiên, dùng các nguồn vật liệu từ tự nhiên.

Nông nghiệp hữu cơ có thể sử dụng nhà lưới, nhưng không nên sử dụng nhà kính. Bởi vì nhà kính sẽ kín toàn bộ, trong khi nhà lưới, có tác dụng ngăn cản côn trùng nhưng vẫn có sự thông gió với bên ngoài. Nếu không sử dụng nhà lưới, sâu bệnh sẽ nhiều hơn, sẽ phải tăng sử dụng các biện pháp đấu tranh sinh học. Ở một số mô hình hữu cơ, người ta trồng hoa có màu sắc sặc sỡ và mùi thơm để thu hút côn trùng. Trồng đa dạng các loại cây để không bị sâu bệnh phá hủy hàng loạt cũng là một trong những giải pháp. Đối với những loại họ cây bầu, bí, dưa chuột… trồng để lấy quả, khi sản xuất theo nguyên lý tự nhiên thì phải thụ phấn theo phương pháp thiên nhiên nhờ ong bướm. Trong trường hợp này, nếu áp dụng nhà lưới sẽ ngăn cản các loài ong đi vào, tức là sẽ không có sự thụ phấn tự nhiên.

Để sản xuất an toàn đòi hỏi chi phí đầu tư dẫn tới giá nông sản cũng tăng cao. Ảnh: tư liệu của Cty Vinaxanh

Vấn đề nông dân quan tâm là phương thức canh tác nào đem lại thu nhập cao, thì họ mới làm. Khuyến khích nông dân thay đổi thói quen canh tác nông nghiệp theo hướng bền vững là điều rất khó. Các giải pháp nào để hóa giải vấn đề này?

Tại Hà Nội, từ năm 2008 khi sáp nhập Hà Tây, đã quan tâm chuyển đổi sản xuất nông nghiệp sang VietGAP. Nhưng lúc đó chỉ tập trung vào đào tạo nông dân sản xuất mà chưa quan tâm tới vấn đề thị trường. Nông dân vẫn bán sản phẩm ra chợ đêm, hàng rau an toàn lẫn với rau không an toàn, giá bán như nhau, khiến sản xuất VietGAP khó phát triển. Nhà nước chỉ hỗ trợ chứng nhận VietGAP năm đầu tiên, lúc đầu diện tích được chứng nhận rất lớn, nhưng năm sau Nhà nước không còn hỗ trợ nữa, thì diện tích được chứng nhận giảm đi.

Theo tôi, Nhà nước không nên hỗ trợ kinh phí chứng nhận VietGAP. Thực tế cho thấy, nhiều mô hình như rau hữu cơ, người sản xuất tự chứng nhận, không cần sự chứng nhận của Nhà nước, nhưng được người tiêu dùng tin tưởng nên họ sẵn sàng mua với giá cao hơn. Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương cũng không nên tập trung vào hỗ trợ phân bón cho nông dân. Vì nhiều địa phương hỗ trợ phân bón sẽ chỉ khuyến khích nông dân sử dụng nhiều phân bón vô cơ. Thay vào đó, nên hỗ trợ xây dựng các liên kết để nông dân đưa được sản phẩm an toàn đến người tiêu dùng.

Chúng tôi vừa bảo vệ thành công đề tài cấp Bộ cách đây một tháng về nghiên cứu mô hình chuỗi giá trị nông sản an toàn. Nghiên cứu những mô hình trồng trọt rau, chè, cây ăn quả cho thấy các HTX rau an toàn ở Mộc Châu (Sơn La) kết nối với các siêu thị tại Hà Nội rất tốt. Từ đó rút ra, cần phải hỗ trợ thành lập HTX và chứng nhận sản phẩm an toàn theo HTX. Vì từng hộ gia đình quy mô nhỏ, số lượng sản phẩm ít, nếu chứng nhận thì sẽ rất đắt. Sau đó, kết nối các HTX với siêu thị. Vai trò của hệ thống bán lẻ, của người mua rất quan trọng.

Chúng ta thường nói là làm theo tiêu chuẩn. Nhưng tiêu chuẩn nào? Nhà nước chỉ ban hành tiêu chuẩn chung, nhưng tiêu chuẩn thực sự phải do người mua quyết định. Như BigC yêu cầu tiêu chuẩn VietGAP, Aeon mail đòi hỏi tiêu chuẩn cao hơn, họ đưa tiêu chuẩn vào trong hợp đồng và HTX thực hiện. Phải có tiêu chuẩn rõ ràng thì mới tránh được tình trạng bẻ kèo. Sản xuất lúa ở ĐBSCL hay xảy ra tình trạng bè kèo, vì nông dân sản xuất không có quy định về chất lượng cụ thể. Nên, bên mua họ nghĩ mua ở đâu cũng được, chỗ nào giá rẻ hơn thì họ mua. Nếu sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng, thì bên mua sẽ bắt buộc phải mua sản phẩm của những người đã ký hợp đồng và sản xuất theo quy trình khắt khe đó. Mô hình hữu cơ tại sao bền vững hơn, vì sản phẩm đó đặc biệt, không thể mua ở bên ngoài được. Ngược lại, nông dân buộc phải bán cho bên mua đã ký kết thì mới được trả giá cao.

Chúng ta vẫn nói về liên kết HTX – doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp đảm nhiệm khâu chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Nhưng số lượng doanh nghiệp còn ít, không dủ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của các vùng sản xuất. Thời gian qua, nhiều HTX đã được hỗ trợ chuyển giao công nghệ bảo quản chế biến, họ thực hiện luôn khâu này và trực tiếp tiêu thụ sản phẩm rất tốt. Chúng tôi đã hỗ trợ cho HTX Kim Nhung ở Đồng Tháp và HTX xã Suối Lớn ở Đồng Nai để sau thu hoạch chế biến xoài. Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam cũng đang hỗ trợ hai HTX nông nghiệp ở Hải Dương xuất khẩu sản phẩm sang Hàn Quốc, là HTX Đức Chính chuyên xuất khẩu cà rốt, và HTX Tân Minh Đức xuất khẩu rau các loại. Các HTX này được hỗ trợ công nghệ sau thu hoạch, chế biến sản phẩm.

Phân bón hữu cơ góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp sạch.

Thực phẩm an toàn luôn có giá thành và giá bán cao. Những người tiêu dùng có thu nhập thấp sẽ nguy cơ không tiếp cận được với nông sản tử tế, thưa ông?

Đối với người tiêu dùng nghèo, một trong những giải pháp là làm thế nào có nông sản an toàn và giá rẻ. Bộ NN&PTNT chỉ đạo thực hiện Đề án không còn nạn đói, Cục Kinh tế hợp tác và PTNT thực thi, chúng tôi tư vấn. Với các xã nghèo ở miền núi, không khuyến khích người dân đi mua lương thực, thực phẩm, thay vào đó, khuyến khích họ sản xuất tại chỗ. Tự cung tự cấp cũng là giải pháp. Ở nhiều nơi, như Sơn La, nông dân chuyển đổi từ lúa nương sang sản xuất ngô nhiều quá, dẫn đến họ không tự có lương thực để ăn phải đi mua, trong khi ngô phải bán thấp, thậm chí có hộ không bán được. FAO và IFAD phát động các chính sách thúc đẩy hệ thống sản xuất lương thực địa phương để tiếp cận với thực phẩm sạch, mục tiêu đảm có cái ăn, mà ăn thì phải an toàn.

Chuỗi giá trị càng dài thì giá thành sẽ càng cao. Nên ngay cả châu Âu hiện cũng đang quay lại hệ thống sản xuất địa phương. Vì vậy phải cắt ngắn chuỗi giá trị. Ở châu Âu, đang xuất hiện xu hướng tẩy chay siêu thị, vì người ta cho rằng, qua kênh siêu thị thì giá bán cao do chi phí tiền điện, tiền mặt bằng nhiều. Họ thành lập các CLB người tiêu dùng, ký kết hợp đồng thẳng với HTX nông nghiệp và Hiệp hội sản xuất nông nghiệp để mua trực tiếp lương thực thực phẩm. Tương lai tới đây tại Việt Nam, người tiêu dùng thành thị sẽ phải tham gia vào các CLB tiêu dùng, thiết lập các nhóm mua chung. Với cách thức này, người thu nhập thấp cũng có thể tham gia để mua được thực phẩm an toàn với giá phù hợp.

Xin ông cho biết, khoa học kỹ thuật đang tập trung nghiên cứu vào những vấn đề gì để đóng góp thúc đẩy nông nghiệp tử tế?

Bắt kịp với xu hướng sản xuất mới, nghiên cứu khoa học nông nghiệp cũng phải thay đổi. Đối với Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam chúng tôi, mạnh nhất là nghiên cứu giống, nên hướng sang các giống chất lượng. Đối với lĩnh vực phân bón, Viện chúng tôi tập trung vào nghiên cứu các loại vi sinh vật mới, chuyển giao các dòng vi sinh vật này để nông dân tự sản xuất phân bón hữu cơ. Đối với phòng chống dịch bệnh, chúng tôi nghiên cứu giải pháp phòng trừ sinh học theo hướng tổng hợp chứ không phải chỉ nghiên cứu riêng thuốc.

Hai là, nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật, quy trình sản xuất an toàn, tăng cường đào tạo nông dân, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân. Đồng thời kết hợp với các giải pháp xã hội, nghiên cứu thúc đẩy các tổ chức của nông dân. Muốn nông dân tiếp thu được các tiến bộ kỹ thuật, quy trình sản xuất an toàn, thì nông dân phải tham gia vào các tổ hợp tác và HTX. Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam có Trung tâm Chuyển giao kỹ thuật, có Trung tâm Hệ thống nông nghiệp chuyên hỗ trợ thúc đẩy các tổ chức hợp tác của nông dân. Sắp tới, chúng tôi sẽ nhập hai Trung tâm này thành Viện “Hệ thống nông nghiệp chuyển giao công nghệ” để thực hiện gói tổng hợp đồng bộ cả 2 giải pháp: kỹ thuật và xã hội.

Trân trọng cảm ơn ông!

Theo tôi, Nhà nước không nên hỗ trợ kinh phí chứng nhận VietGAP. Thực tế cho thấy, nhiều mô hình như rau hữu cơ, người sản xuất tự chứng nhận, không cần sự chứng nhận của Nhà nước, nhưng được người tiêu dùng tin tưởng nên họ sẵn sàng mua với giá cao hơn. Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương cũng không nên tập trung vào hỗ trợ phân bón cho nông dân. Vì nhiều địa phương hỗ trợ phân bón sẽ chỉ khuyến khích nông dân sử dụng nhiều phân bón vô cơ. Thay vào đó, nên hỗ trợ xây dựng các liên kết để nông dân đưa được sản phẩm an toàn đến người tiêu dùng.

Chu Khôi (thực hiện)

 

Chủ đề:
Bạn đang xem danh mục: Bàn tròn
Tin cập nhật
Sự kiện
Tam nông
  • Thu tiền tỷ từ mô hình chăn nuôi khép kín

    Về xã Vạn Thái, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội, hỏi thăm nhiều người biết ông Nguyễn Văn Thanh – Chủ trang trại chăn nuôi với mức thu nhập hơn 100 tỷ đồng mỗi năm, cũng là tấm gương về ý chí quyết tâm làm giàu trên mảnh đất quê hương. Chia sẻ về những […]

  • Giám đốc hợp tác xã kiên trì vượt qua thất bại

    Với diện tích 5.600m2, ông Nguyễn Duy Nho – Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ Đồng Văn, xã Văn Luông (Tân Sơn, Phú Thọ), đã gây dựng được mô hình trang trại chăn nuôi tổng hợp trong đó nuôi lợn kết hợp với đào ao thả cá, còn lại là trồng cây keo, cây […]

  • Áp dụng khoa học công nghệ để tăng thu nhập cho xã viên

    Là người dân tộc thiểu số sống ở miền núi phía Bắc, đến năm 1990 vào Đắk Lắk xây dựng kinh tế mới, những ngày đầu gặp rất nhiều khó khăn… Đến nay, bà Lương Thị Oanh, đã là Chủ tịch Hội đồng quản trị (CTHĐQT) kiêm giám đốc Hợp tác xã (HTX) Sản xuất […]