• Trang chủ
  • Bàn tròn
  • Một số giải pháp thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam
07:43 - 28/11/2020

Một số giải pháp thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam

Trong những năm qua, chủ trương giảm nghèo luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo đạt được nhiều thành tựu quan trọng và đã thu được những kinh nghiệm quý báu trong xây dựng, tổ chức thực hiện. Giảm nghèo bền vững đã trở thành chính sách nền tảng, xuyên suốt, luôn được cập nhật, bổ sung trong hệ thống chính sách phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta. Để duy trì những thành tựu giảm nghèo và người dân tự mình vươn lên xây dựng cuộc sống khá giả, hạnh phúc thì cần nhận diện những vấn đề mới và có những giải pháp phù hợp.

Mô hình kinh tế hợp tác xã góp phần giảm nghèo bền vững tại tỉnh Bắc Kạn. Ảnh: Tư liệu

Chính sách giảm nghèo bền vững của Việt Nam

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng xác định phải “Chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần…; nâng cao phúc lợi xã hội và giảm nghèo bền vững” là nhiệm vụ đảm bảo đất nước phát triển bền vững. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2020 được thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI định hướng: “Đẩy mạnh giảm nghèo bền vững”. Hội nghị Trung ương 5 Khóa XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012- 2020 chỉ đạo “Đẩy mạnh việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Chính phủ và Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo”. Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội” (Điều 34), “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác” (Điều 59).

Thể chế các chủ trương của Đảng, ngày 09.11.2011, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 13/2011/QH13 về Chương trình mục tiêu Quốc gia giai đoạn 2011 – 2015, trong đó Chương trình mục tiêu Quốc gia Giảm nghèo bền vững được ưu tiên hàng đầu. Tiếp đó, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19.5.2011 về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020 và Thủ tướng phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững 2012-2015.

Năm 2014, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 76/2014/QH13 ngày 24.6.2014 về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020. Thủ tướng ban hành Quyết định 1722/QĐ-TTg ngày 02.9.2016 phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 gồm 05 nội dung: i) Hỗ trợ các huyện, xã nghèo. ii) Hỗ trợ các xã nghèo miền núi biên giới. iii) Hỗ trợ sản xuất, đa dạng sinh kế ở những xã không thuộc dự án 30A và 135. iv) Truyền thông về giảm nghèo và tiếp cận thông tin của người nghèo. v) Nâng cao năng lực của Chính phủ giám sát chương trình.

Từ năm 2016, chuẩn nghèo mới tiếp cận đa chiều được áp dụng để đo lường tình trạng nghèo của hộ gia đình một cách đầy đủ, tổng thể bao gồm cả giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, vệ sinh môi trường và tiếp cận thông tin truyền thông được đưa vào đánh giá tình trạng hộ nghèo.

Các chính sách giảm nghèo đã từng bước được điều chỉnh theo hướng ưu tiên cả cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo; ngoài các chính sách hỗ trợ đối với hộ nghèo, Chính phủ đã ban hành chính sách hỗ trợ Bảo hiểm Y tế cho hộ cận nghèo, chính sách cho vay vốn tín dụng ưu đãi, chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo sinh kế đối với hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo. Giảm nghèo đã gắn kết với tạo sinh kế, việc làm, đào tạo nghề và xuất khẩu lao động.

Chính sách giảm nghèo bền vững là hệ thống chính sách được tích hợp trong nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật khác nhau ở Trung ương và địa phương, nhưng tập trung nhất trong 02 Chương trình mục tiêu Quốc gia đó là Chương trình giảm nghèo bền vững và Chương trình Xây dựng nông thôn mới. Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững đã được thực hiện bởi hai giai đoạn 2011-2015 và 2016-2020. Sau gần 10 thực hiện 02 giai đoạn của Chương trình giảm nghèo bền vững, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, hầu hết các mục tiêu đã đề ra đều đạt được và vượt mức kế hoạch, đem lại những thành tựu to lớn trong phát triển đất nước và người dân vùng khó khăn được thụ hưởng những kết quả thực chất.

Cần tạo sinh kế để người nghèo vươn lên. Ảnh: Tư liệu

Một số kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo

Một là, kết quả thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2015 và 2016-2020 đã huy động nguồn lực tập trung cho phát triển các thiết chế hạ tầng kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế… vùng khó khăn góp phần bảo đảm an sinh xã hội, tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo, đặc biệt là vùng dân tộc thiểu số và miền núi; người yếu thế được trợ giúp, có được cơ hội tự vươn lên thoát nghèo bền vững.

Hai là, thành tựu giảm nghèo của Việt Nam là rõ rệt, thể hiện sự quyết tâm cao của Đảng và Nhà nước trong thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) và chấm dứt mọi hình thức nghèo ở mọi nơi, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, ấn tượng nhất trong các mục tiêu phát triển bền vững mà Việt Nam cam kết thực hiện; được nhiều Chính phủ, tổ chức quốc tế tham quan, học tập, chia sẻ kinh nghiệm.

Ba là, trong tổ chức thực hiện, giảm nghèo bền vững đã trở thành nhiệm vụ, mục tiêu ưu tiên trong chỉ đạo, điều hành của các cấp ủy, chính quyền; cơ chế, chính sách giảm nghèo ngày càng phù hợp hơn; Nguồn vốn đầu tư được bảo đảm; Phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo, không để ai bị bỏ lại phía sau” được nhân dân các địa phương hưởng ứng.

Bốn là, tỷ lệ nghèo dù tính theo chuẩn cũ hay mới trong cả giai đoạn 2011-2020 đều giảm mạnh; mức tăng chi của những gia đình có thu nhập thấp đã cao hơn mức tăng chi trung bình của cả nước trong giai đoạn 2010-2016; sau 5 năm tài sản của người nghèo đã tăng hơn, đời sống của người nghèo được cải thiện.

Năm là, kết quả các chính sách giảm nghèo bước đầu tạo được tạo lưới an sinh cho người dân, đảm bảo hỗ trợ người nghèo, người yếu thế phát triển bền vững hơn về kinh tế và xã hội; đồng bào vùng dân tộc thiểu số, vùng còn khó khăn được hưởng những chính sách đặc thù để đảm bảo không bị chênh lệch với các vùng khác về thụ hưởng các chính sách xã hội.

Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, chưa đồng đều, cụ thể là: Nghèo đói vẫn còn ở những vùng khó khăn, miền núi, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống; tỷ lệ tái nghèo vẫn xảy ra do thiên tai, dịch bệnh và rủi ro khác; tỷ trọng hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số trong tổng số hộ nghèo tăng từ 48% năm 2016 lên 55,27% năm 2018. Mức hỗ trợ cho trẻ em, học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số và một số nhóm khác còn thấp so với nhu cầu thực tế; vẫn còn 4.800 hộ gia đình chưa có nhà ở và 1,4 triệu hộ sống trong nhà đơn sơ, trong đó 465 ngàn hộ dân tộc thiểu số đang ở nhà tạm, dột nát cần hỗ trợ (chiếm 15,3% tổng số hộ dân tộc thiểu số); có trên 375 ngàn hộ dân tộc thiểu số chưa được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh…

Nguyên nhân của những hạn chế trên là do khu vực nhiều người nghèo thường có điều kiện tự nhiên, xã hội không thuận lợi, xuất phát điểm thấp, mặt bằng dân trí nói chung còn hạn chế; trình độ sản xuất, phương thức canh tác giản đơn; ít có cơ hội tiếp cận việc làm phi nông nghiệp; chất lượng nguồn nhân lực, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề còn thấp; tâm lý không muốn xa nơi cư trú; việc tiếp nhận áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất của đồng bào còn hạn chế. Các chính sách đặc thù đối với khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc chậm được bố trí vốn thực hiện. Đội ngũ cán bộ cơ sở xã, phường, thị trấn không ổn định, chế độ chính sách cho đội ngũ cán bộ này ở cấp huyện, cấp xã chưa được quan tâm đúng mức làm hạn chế đến hiệu quả công tác tham mưu cho các cấp chính quyền.

Hộ nghèo ở huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên được hỗ trợ vay vốn nuôi trâu sinh sản. Ảnh Hồng Tâm

Những vấn đề tác động đến chính sách giảm nghèo

Thứ nhất, trong bối cảnh an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, thu hẹp diện tích đất ở, đất sản xuất tác động tiêu cực đến cuộc sống và sinh kế của người dân, đòi hỏi Nhà nước có những chính sách phù hợp và đồng hành cùng người dân nhiều hơn trong nỗ lực thực thi các mục tiêu giảm nghèo bền vững.

Thứ hai, nghèo trẻ em đa chiều, tái nghèo, nghèo phát sinh, nghèo do thiên tai, dịch bệnh, rủi ro thị trường, nhà ở, trường học và chăm sóc y tế đối với người nghèo đô thị và người lao động ở các khu công nghiệp là những đối tượng cần thiết phải mở rộng độ bao phủ để đảm bảo mọi nhóm dân cư, đặc biệt là người nghèo và người dễ bị tổn thương được hưởng các chính sách an sinh xã hội là những thách thức mới trong tổ chức thực thi chính sách giảm nghèo.

Thứ ba, tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và xu hướng phát triển bền vững, tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế trải nghiệm, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp chính xác… đang ngày càng phổ biến và quan điểm lấy con người làm trung tâm có ảnh hưởng lớn đến mô hình sinh kế, hình thức việc làm đã đặt ra các yêu cầu mới đối với chính sách đào tạo nguồn nhân lực, chính sách việc làm, tạo việc làm tại chỗ… những chính sách đó có tác động trực tiếp đến chính sách giảm nghèo bền vững ở nước ta.

Thứ tư, quy mô của lao động khu vực phi chính thức ở Việt Nam còn lớn, thị trường lao động mở và linh hoạt, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra nhanh chóng sẽ thúc đẩy các dòng di cư lao động trong nước và quốc tế, gồm cả người nước ngoài đến Việt Nam làm việc, làm gia tăng mức độ cạnh tranh về việc làm, nảy sinh những vấn đề kinh tế, xã hội mới ở cả nơi lao động đi và nơi lao động đến, đòi hỏi hệ thống chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội phải dự liệu, mở rộng độ bao phủ nhiều hơn nữa đối với hiện tượng này.

Khuyến nghị một số giải pháp

Thứ nhất , tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng về công tác giảm nghèo, nâng cao năng lực, hiệu quả sự lãnh đạo của đảng đối với công tác quản lý nhà nước trong giảm nghèo, lao động, thị trường việc làm và công tác thể chế hóa, hài hòa hóa các chính sách giảm nghèo với các chính sách phát triển bền vững và chính sách an sinh xã hội.
Thứ hai là, tuyên truyền nâng cao nhận thức về chính sách giảm nghèo trong toàn xã hội; phát huy vai trò, sức mạnh của hệ thống chính trị trong tư vấn, phản biện, kiến nghị, giám sát, vận động thực hiện các chủ trương, chính sách và nâng cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, mọi tầng lớp xã hội trong việc thực hiện chính sách giảm nghèo, phát triển bền vững.

Thứ ba là, nâng cao năng lực hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước: hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ quản lý thông minh, cải cách thủ tục hành chính, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong xây dựng và tổ chức, thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững; liên tục đào tạo cán bộ, nhất là cán bộ cấp cơ sở bổ sung nguồn nhân lực có chất lượng cho công tác xóa đói, giảm nghèo; bổ sung chế độ, chính sách để người làm công tác giảm nghèo ở cơ sở được yên tâm công tác; rà soát, tích hợp, giảm chồng chéo, trùng lắp về tổ chức và hoạt động giữa các cơ quan trong hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan đến xóa đói, giảm nghèo; thường xuyên rà soát, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trên từng lĩnh vực để có cơ sở đề xuất bổ sung, sửa đổi hoặc thay thế cho phù hợp. Hoàn thiện luật pháp về hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực xóa đói, giảm nghèo.

Thứ tư là, hoàn thiện hệ thống chính sách giảm ghèo cho giai đoạn 2021-2030, quan tâm ban hành đồng bộ các nhóm chính sách “định hướng”, “hỗ trợ” và “quản lý rủi ro” tạo thành hệ thống chính sách đảm bảo khi thực thi được hiệu quả và tạo được lưới an sinh đồng bộ, toàn diện, bao trùm theo hướng bền vững, ứng phó với những thách thức từ bối cảnh mới. Trong đó cần quan tâm các nội dung:

– Nhóm chính sách “định hướng”: cần định hướng nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội cơ bản. Nhà nước đảm bảo nguồn lực đầu tư đáp ứng yêu cầu cơ bản, chủ yếu; huy động sự đóng góp, tham gia của toàn xã hội đầu tư phát triển y tế, giáo dục, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, chú trọng vùng sâu, vùng xa, vùng bị nhiễm mặn, vùng thường xuyên hạn hán và lũ lụt, khó khăn về nguồn nước. Tiếp tục thực Chương trình Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2030 và các chương trình đào tạo cho lao động nông thôn… tạo sức mạnh tổng hợp cho thực hiện đạt các mục tiêu giảm nghèo giai đoạn mới.

– Về nhóm chính sách “hỗ trợ” và “quản lý rủi ro”: Thiết kế các chương trình “hỗ trợ” cho phát triển sinh kế theo hướng linh hoạt, có thể điều chỉnh kịp thời phù hợp với đối tượng người yếu thế; hỗ trợ trong hoàn cảnh khó khăn, rủi ro đáp ứng nhu cầu người dân và cộng đồng sau thiên tai, thảm hoạ. Chính sách “quản lý rủi ro” hướng tới tăng cường khả năng ứng phó giảm thiệt hại do rủi ro; giảm tỷ lệ người nghèo do thiên tai, dịch bênh, thị trường. Hỗ trợ cho đào tạo, chuyển đổi việc làm; phát triển bảo hiểm nông nghiệp để bù đắp tổn thất của người dân do tác động của thiên tai, dịch bệnh, thị trường; tăng cường cho hệ thống bảo vệ sản xuất cây trồng, vật nuôi và hỗ trợ phát triển thị trường trong điều kiện hội nhập.

Các chính sách giảm nghèo đã từng bước được điều chỉnh theo hướng ưu tiên cả cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo; ngoài các chính sách hỗ trợ đối với hộ nghèo, Chính phủ đã ban hành chính sách hỗ trợ Bảo hiểm Y tế cho hộ cận nghèo, chính sách cho vay vốn tín dụng ưu đãi, chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo sinh kế đối với hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo. Giảm nghèo đã gắn kết với tạo sinh kế, việc làm, đào tạo nghề và xuất khẩu lao động.

Nguyễn Văn Tốn  
Phó Vụ trưởng Vụ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ban Kinh tế Trung ương

Chủ đề:
Bạn đang xem danh mục: Bàn tròn
Tin cập nhật
Sự kiện
Tam nông
  • Thanh long rớt giá, nông dân Bình Thuận, Long An lo “mất” Tết

    Cả hai vùng trồng thanh long lớn nhất cả nước đang loay hoay tìm đầu ra cho vụ thanh long chong đèn cuối năm. Trước đợt thu hoạch Tết Nguyên đán, người trồng thanh long tại 2 tỉnh Bình Thuận và Long An đang đối diện với khó khăn, khi vụ này cây cho năng […]

  • Hiệu quả từ mô hình nuôi lươn đáy không bùn

    Nhằm đa dạng hoá các sản phẩm nuôi trồng thuỷ sản cho hội viên nông dân và đẩy mạnh xây dựng Chi hội Nông dân nghề nghiệp, Tổ hội Nông dân nghề nghiệp. Năm 2020 T.Ư Hội Nông dân Việt Nam (NDVN) đã triển khai dự án nuôi lươn trong bể xi măng đáy không […]

  • Đồng Tháp: 5/8 xã biên giới đạt chuẩn nông thôn mới

    Chiều ngày 15/1, tại tỉnh Đồng Tháp, UBND tỉnh Đồng Tháp tổ chức buổi họp mặt mừng Đảng – mừng Xuân Tân Sửu năm 2021 và báo cáo kết quả nổi bật thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (2016-2020). Tại buổi họp mặt, ông Phạm Thiện Nghĩa, Chủ […]