23:45 - 13/12/2017

Khi thuốc bảo vệ thực vật thành mầm họa

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) an toàn khi dùng đúng cách nhưng vượt quá sẽ là thuốc độc làm giảm sức cạnh tranh nông sản Việt.

Thuốc BVTV từng khiến hạt gạo Việt Nam ảnh hưởng danh tiếng trên thế giới.

Mới đây tại diễn đàn khoa học “Thực trạng và giải pháp an toàn thực phẩm hiện nay ở Việt Nam”, TS. Nguyễn Kim Vân – Chủ tịch Hội KHKT Bảo vệ thực phẩm Việt Nam tiết lộ thông tin, kể cả nông sản Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài cũng chứa dư lượng thuốc hóa học khiến khó khăn trong cạnh tranh trên trường quốc tế.

Theo TS. Nguyễn Kim Vân, tình trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) những năm gần đây đang trở nên thái quá dẫn tới lạm dụng.

Đáng chú ý, việc sử dụng thuốc BVTV trong các loại nông sản được trồng cấy để xuất khẩu. Do đó, có nguy cơ gây ra tình trạng mất an toàn thực phẩm và làm giảm sức cạnh tranh của nông sản, hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới.

Theo thông tin của Cục BVTV năm 2014, Nhật Bản đã cảnh báo gạo xuất khẩu của nước ta có dư lượng Acetamiprid vượt mức cho phép (0,01ppm) và 2 hoạt chất thuốc trừ bệnh có nguy cơ cao trên gạo xuất khẩu là Hexaconazol (MRL _< 0,02ppm) và Fosetyl Aluminium (MRL _< 0,5 ppm)…

Năm 2016, Cục Bảo vệ thực vật cũng đã tiến hành lấy 47 mẫu hồ tiêu để kiểm tra dư lượng thuốc BVTV(từ tháng 5- 6/2016) tại các tỉnh: Gia Lai, Đắk Lắk và Bình Phước, kết quả có 18/47 mẫu phát hiện có dư lượng thuốc BVTV vượt mức dư lượng tối đa cho phép.

Hoạt chất thuốc BVTV phát hiện vượt mức theo quy định của EU gồm: Carbendazim, Mancozeb, Imidacloprid, Chlorpyrifos Ethyl, Metalaxyl.

Những số liệu trên chưa đầy đủ song cũng cho thấy lượng thuốc tồn dư vượt ngưỡng cho phép trên nông sản xuất khẩu là vấn đề  phải hết sức quan tâm.

TS. Nguyễn Kim Vân nhận định, kinh nghiệm thực tế cho thấy, thuốc BVTV là một trong những biện pháp có tính quyết định trong việc ngăn chặn, đẩy lùi các loài dịch hại nguy hiểm để giữ vững năng suất cây trồng, trong nhiều trường hợp.

Thuốc BVTV có đóng góp đáng kể vào việc đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu nông lâm sản thông qua nâng cao sản lượng cây trồng mà không cần tăng diện tích.

Song dù có ích nhưng thuốc BVTV là con dao 2 lưỡi có nguy cơ dẫn tới hậu quả tai hại làm ảnh hưởng tới không chỉ chính thực phẩm đó mà còn gây hại tới người tiêu dùng nông sản đó, thậm chí có khả năng di truyền cho thế hệ sau.

Các kịch bản biến thuốc BVTV thành mầm họa

Vi phạm trong sản xuất và kinh doanh thuốc BVTV biểu hiện rõ nhất là tình trạng sản xuất, buôn bán kinh doanh thuốc BVTV bất hợp pháp, thuốc giả, thuốc nhái các loại thuốc đã có thương hiệu uy tín trên thị trường, thuốc BVTV không rõ nguồn gốc…

Năm 2016 Cục BVTV và các chi cục BVTV đã tổ chức 1.162 đợt thanh, kiểm tra 11.485 cơ sở sản xuất, buôn bán thuốc BVTV trong đó phát hiện 1.330 cơ sở vi phạm: không có giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, buôn bán thuốc BVTV; buôn bán thuốc ngoài danh mục; sản xuất, buôn bán thuốc không phù hợp tiêu chuẩn chất lượng; sản xuất, buôn bán thuốc vi phạm nội dung ghi nhãn; buôn bán thuốc kém chất lượng; buôn bán thuốc không rõ nguồn gốc xuất xứ, buôn bán thuốc quá hạn sử dụng.

Bên cạnh đó, tình trạng thuốc nhập lậu, thuốc không rõ nguồn gốc lọt qua biên giới  một số tinh phía Bắc như Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, tình trạng buôn bán thuốc độc hại ngoài danh mục, thuốc ghi nhãn mác nước ngoài không có hướng dẫn tiếng Việt vv vẫn diễn ra ở các vùng biên nước ta.

Đa phần nông dân dùng sai thuốc BVTV

Tính từ đầu năm 2016 đến nay các lực lượng chức năng đã phát hiện hơn 50 vụ việc vi phạm về vận chuyển, buôn bán, sử dụng thuốc BVTV nhập lậu, ngoài danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam, đã thu giữ trên 7 tấn thuốc BVTV ngoài danh mục với hơn 25 loại bao gồm các nhóm: thuốc trừ sâu/nhện; thuốc trừ bệnh; thuốc kích thích sinh trưởng; thuốc bảo quản, thuốc trừ cỏ…

Một trong các nguyên nhân dẫn tới khả năng biến thuốc BVTV thành thuốc độc là sử dụng thái quá, không đúng quy định, thậm chí lạm dụng thuốc.

“Một số người làm sản xuất nông nghiệp vì sợ mất năng suất và vì lợi nhuận thu được đã sử dụng thuốc BVTV quá mức, sai quy định, không tuân thủ nguyên tắc 4 đúng, tăng số lần phun hoặc tự ý tăng nồng độ, liều lượng thuốc phun, không đảm bảo thời gian cách ly hoặc sử dụng thuốc BVTV kém chất luợng… dẫn tới nông sản tồn dư các chất có hại quá mức cho phép, gây ảnh hưởng tới sức khỏe và sự an toàn của người tiêu dùng” – TS. Vân nhận định.

Hơn nữa, tâm lý của nhiều nhà nông là mặc dù được cơ quan chuyên môn hướng dẫn, nhưng khi gặp sâu bệnh, nông dân ra mua thuốc ở cửa hàng thuốc BVTV thì lại hoàn toàn nghe theo tư vấn của chủ cửa hàng thuốc.

Nhiều cửa hàng vì mục đích lợi nhuận thường tư vấn cho nông dân quá liều lượng, thay thế thuốc không đúng chủng loại, không đúng chất lượng, không đủ số lượng….

Tuy nhiên, ông Vân cũng đánh giá tốt sự vào cuộc tích cực của cơ quan chuyên ngành BVTV và toàn xã hội nên tình hình sử dụng thuốc BVTV trong nông nghiệp đã có tiến bộ.

Vẫn dùng thuốc hóa học nhưng dùng sao cho an toàn

Để khắc phục những mặt nhược điểm của thuốc BVTV đối với vấn đề an toàn thực phẩm, TS. Nguyễn Kim Vân đề xuất một số giải pháp trọng điểm.

Cụ thể, Chính phủ, Bộ Nông nghiệp cần phải xây dựng lộ trình từ nay đến 2030 loại bỏ dần những thuốc BVTV độc hại, lạc hậu, tăng cường các loại thuốc tiên tiến, ít độc hại với con người và môi trường. Để làm được mục tiêu này, cần chú ý vài công tác sau:

Thuốc BVTV được mua “vô tội vạ” mà ít có kiểm soát.

Một là, có chế tài quy định rõ ràng hơn để kiểm tra, rà soát loại bỏ dần những hoạt chất BVTV có độ độc cao (nhóm 2) khỏi danh mục thuốc BVTV đã đăng ký ở nứớc ta, chú ý loại bỏ các hoạt chất thuốc BVTV đã bị cấm sử dụng ở một số nước tiên tiến như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc…

Hai là, định kỳ đánh giá lại hiệu quả và tác động của thuốc BVTV sau một thời gian đã đưa vào sử dụng (thực hiện nguyên tắc có vào có ra) để có cơ sở loại bỏ các thuốc BVTV kém hiệu quả hoặc có tác động xấu đến sức khỏe con người và môi trường.

Ba là, sớm xây dựng và hoàn thiện các quy chuẩn kỹ thuật liên quan tới việc kiểm tra, kiếm định chất lượng các loại thuốc BVTV đang sử dụng ở Việt Nam.

Để giảm bớt người sử dụng thuốc BVTV cần tổ chức các tổ, đội dịch vụ BVTV ở từng xã, huyện và trước mắt phát triển mạng lưới dịch vụ BVTV này trên một số cây trồng có lợi thế cạnh tranh và cây trồng tiềm năng.

Ở các địa phương, cần tăng cường chỉ đạo, mở rộng việc ứng dụng các tiến bộ khoa học trong lĩnh vực BVTV vào sản xuất như chương trình IPM theo hướng hữu cơ- sinh học, chương trình 3G3T, 1P5G, chương trình công nghệ sinh thái “ ruộng lúa bờ hoa”, chương trình SRI, chương trình VietGAP, PT công nghệ cao trong nông nghiệp.

Tại các Viện nghiên cứu cần tập trung việc nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng các chế phẩm sinh học, phân hữu cơ vi sinh, nghiên cứu, ứng dụng các giống cây trồng có gen kháng sâu bệnh để hạn chế việc sử dụng thuốc BVTV và phân hóa học trong sản xuất nông nghiệp.

Vấn đề xử lý thuốc BVTV tồn đọng và thu gom, xử lý rác thải bao bì thuốc BVTV bảo vệ sức khỏe con người và môi trường hiện nay là vấn đề lớn, không những cần ý thức trách nhiệm của mỗi người dân mà còn cần có sự hướng dẫn, đầu tư thực hiện sao cho khoa học của các cấp chính quyền.

Cúc Phương – ĐV

Please Enter Your Facebook App ID. Required for FB Comments. Click here for FB Comments Settings page

Tin cập nhật
Sự kiện
Tam nông