14:38 - 10/04/2020

“Giải cứu” nông sản: Cuộc “chiến” sát chân tường và sự vào cuộc của Hội Nông dân

Nói đến nông nghiệp, người ta thường dùng số liệu năng suất, sản lượng, kim ngạch xuất khẩu để tạo phấn chấn, niềm vui. Tuy nhiên, còn sản xuất nhỏ lẻ, nông sản không theo một tiêu chuẩn hàng hóa nào thì còn “giải cứu”, còn lo âu – truyền cảm hứng – kêu gọi “tình thương”. Vậy, cuộc “so găng” của thị trường có gợi mở gì về đổi mới tư duy…?

Dây chuyền chế biến sản phẩm tôm xuất khẩu tại nhà máy của Tập đoàn Thủy sản Minh Phú tỉnh Cà Mau. Ảnh: TTXVN

Cuộc “so găng” của thị trường

Để mở đường phát triển kinh tế – xã hội, năm 1995, Việt Nam gia nhập khối Asean; năm 1996, ký Hiệp định Thương mại khung Việt Nam – Asean. Năm 2007, Việt Nam là thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới. Sự góp mặt của Việt Nam trên sân chơi toàn cầu, thể hiện qua việc Chính phủ đã ký kết 15 Hiệp định Thương mại tự do song phương và đa phương; trong đó có 2 Hiệp định đến tháng 7/2020 chính thức có hiệu lực.

Thông thường, Hiệp định thương mại hàng hóa (FTA), bao gồm 4 nội dung là: Cắt giảm hàng rào thuế quan, phi thuế quan; đưa ra danh mục mặt hàng, lĩnh vực được cắt giảm thuế quan; lộ trình cắt giảm thuế quan và các quy định về quy tắc xuất xứ hàng hóa. Về cơ hội, các FTA đã tạo điều kiện cho ngành Nông nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường khu vực, thị trường toàn cầu và tiếp cận dịch vụ của các đối tác thuận lợi hơn. Thứ đến, là hàng rào thuế quan phần rất lớn được giảm về 0% hoặc dưới 5%, đã mang lại một lợi thế cạnh tranh lớn và một triển vọng sáng cho sản xuất hàng hóa nông sản; các rào cản về thủ tục pháp lý cũng được tối giản hơn, tạo điều kiện cho Việt Nam xuất khẩu nông sản, nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường, tiếp thụ KHKT – công nghệ mới và bảo vệ quyền lợi cho người nông dân.

Những lợi thế của các FTA mang đến rất nhiều lợi ích to lớn cho Việt Nam xuất khẩu nông sản, tăng từ 72 nước năm 2009 lên 180 nước năm 2019. Việt Nam là 1 trong 15 quốc gia hàng đầu về xuất khẩu nông sản trên thế giới. Ở trong nước, nông nghiệp là 1 trong 3 ngành kinh tế có thặng dư (8,5 tỷ USD năm 2018 và 9,1 tỷ USD năm 2019).

Tuy nhiên, khi thị trường được mở rộng, các FTA thế hệ mới đã loại bỏ thuế quan cho hàng nông, thủy sản xuất khẩu của Việt Nam, song điều đó không đồng nghĩa hàng của ta dễ dàng bước ngay vào thị trường đối tác. Các rào cản kỹ thuật xuất hiện, khiến việc xuất khẩu vào các thị trường này trở thành khó khăn. Theo Bộ Công Thương, xuất khẩu hàng hóa nông – lâm – thủy sản của nước ta trong năm 2019 giảm 4,5% so với năm 2018. Đây là bước thụt lùi đầu tiên sau chuỗi năm tăng trưởng liên tục; và không chỉ một vài mặt hàng mà có tới 7/9 mặt hàng giảm:

Về thủy sản xuất khẩu: được gần 8,6 tỉ đô la, giảm 2,4% so với năm 2018. Một trong những trắc trở là chưa thoát khỏi vòng kim cô “Thẻ vàng IUU”. Việc này phát sinh từ tháng 10-2017, bị gia hạn và còn ít nhất tới tháng 6-2020. Kim ngạch xuất khẩu cá tra giảm 10% so với năm 2018. Tôm chưa khắc phục được dư lượng thuốc kháng sinh, nên các nhà máy chế biến phải dùng tới 40% nguồn nguyên liệu nhập khẩu.

Xuất khẩu rau quả: Chỉ đạt 3,764 tỉ đô la Mỹ, giảm 1,1% so với năm 2018. Con số 1,1% có vẻ không nhiều, nhưng hệ lụy của nó thì không nhỏ chút nào, nhất là đối với nông dân. Năm 2019, xuất khẩu rau quả không chỉ giảm ở những trái cây chủ lực mà cả những loại gia vị như ớt, mộc nhĩ, nấm hương cũng vật vờ. Trong khi xuất khẩu rau quả khó đủ điều thì nhập khẩu rau quả lại “được mùa”. Năm 2019 nhập khẩu 1,7 tỉ đô la Mỹ, tương ứng với 45% kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này. Nhưng đáng ngại hơn là rau quả ngoại vào nước ta như “vào chỗ không người”, và không chỉ các loại trái cây từ châu Âu, Mỹ, Úc mà còn “la liệt” thứ ta sẵn có như sầu riêng, chôm chôm, cam, quýt, măng cụt… cũng được “rước về”.

Hạt điều năm 2019 tiếp tục giảm 2,2%. Đó là sự khập khiễng giữa khả năng trồng trọt với năng lực chế biến của ngành điều. Lượng điều thô nội địa chỉ đảm bảo 30% năng lực chế biến, nên phải nhập khẩu rất nhiều từ châu Phi. Tới đây họ sẽ giữ lại điều thô để chế biến. Đứng thứ 2 thế giới, song xuất khẩu cà phê của Việt Nam lại sụt mạnh, tới 21,2% so với năm 2018, đứng đầu về tỷ lệ giảm trong nhóm hàng nông, thủy sản. Hồ tiêu thì vẫn “chìm nghỉm” do giá tụt dốc từ 10USD/kg năm 2015, năm 2019 chỉ còn chưa tới 2USD/kg, vì lượng cung hồ tiêu toàn cầu mỗi năm tăng 8-10% trong khi nhu cầu của thế giới chỉ tăng 2-3%/năm.

Xuất khẩu gạo từng là thành tựu được nhắc đến nhiều trong công cuộc đổi mới, song mấy năm gần đây, nhất là năm 2019, gặp nhiều trục trặc. Gạo giảm do các thị trường lớn như Trung Quốc, Indonesia và Bangladesh đều giảm mua gạo của Việt Nam.

Nhiều nông sản xuất khẩu sang Trung Quốc bị ùn ứ do dịch bệnh. Ảnh: Uyên Linh

Nằm trong nhóm 5 quốc gia sản xuất và xuất khẩu chè (trà), song bao năm ròng xuất khẩu chè vẫn ì ạch xung quanh 200 triệu đô la Mỹ, nên năm 2019 dù xuất khẩu có tăng 8,8% so với năm 2018, nhưng số tuyệt đối tăng thêm cũng chỉ là 19 triệu đô la Mỹ, chẳng “bõ bèn” gì.

Cao su là mặt hàng thứ 2 tăng cũng lớn (10%), song tồn tại không nhỏ: (1) Diện tích cao su tiểu điền chiếm tới 53,2% tổng diện tích. Do thiếu liên kết, kỹ thuật, quy trình chăm sóc khó kiểm soát ở tất cả các khâu, chất lượng không ổn định, giá thường thấp hơn từ 1-1,5 triệu đồng/tấn so với giá cao su đại điền; (2) Tỷ trọng cao su già cỗi ở vùng trồng truyền thống đang ở mức cao, năng suất, chất lượng sản phẩm sụt giảm; (3) 80% cao su thiên nhiên được xuất khẩu dưới dạng chế biến thô…

Doanh nghiệp nói gì…?

Thẳng thắn nhìn nhận, cuộc “so găng” của thị trường thì cả đầu vào của sản xuất và đầu ra của nông sản ở nước ta luôn trong tình trạng thiếu hơi, hụt lực và nhiều rủi ro. Nguyên nhân đầu tiên có thể nhắc đến như thiếu kết nối giữa sản xuất với thị trường xuất khẩu; thông tin về thị trường, giá cả, yêu cầu chất lượng của các nước nhập khẩu còn kém, khiến các doanh nghiệp chưa nắm bắt được hết các thông tin để tổ chức sản xuất hợp lý.

Tiếp đến là 80% nông sản chưa xây dựng được thương hiệu, chưa có logo, nhãn mác của Việt Nam đã làm giảm sức cạnh tranh và tham gia sâu vào hệ thống phân phối bán lẻ của các nước nhập khẩu. Do vậy, còn sản xuất ở quy mô hộ gia đình nhỏ lẻ, các hợp tác xã “không chịu lớn”, khoa học kỹ thuật và công nghệ còn ở tầm trung và mức áp dụng hạn chế… thì còn xảy ra “giải cứu” nông sản và tần suất giải cứu ngày một dày hơn, rộng hơn.

Ông Trần Bá Dương, Chủ tịch Công ty Cổ phần Thaco, một đơn vị bắt đầu đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp từ 3 năm nay, cho rằng, cần cơ cấu lại lĩnh vực nông nghiệp, trong đó phải dựa vào nhu cầu thị trường thế giới và yêu cầu của thị trường nội địa. Theo đó, phải theo hướng quy mô lớn, ứng dụng công nghệ phù hợp để tổ chức sản xuất chất lượng và sản lượng ổn định gắn với các thị trường. Song song với đó, sau khi các tập đoàn đã có mô hình sản xuất kinh doanh, hình thành các chuỗi liên kết thì phải chuyển giao kỹ thuật cho nông dân. Nhưng điều quan trọng hơn, đó là nông dân cũng phải ý thức tham gia vào các chuỗi liên kết, sản xuất với doanh nghiệp.

“Chúng ta không nên coi nông nghiệp nghèo nàn và thấp kém. Tôi rất đồng tình với tình tương thân tương ái, nhưng vừa rồi một số tổ chức cứu nông sản cho nông dân và nói một cách thái quá. Tôi cũng là nông dân tôi cũng thấy chạnh lòng. Tại sao làm nông dân lại phải giải cứu. Nếu chúng ta làm kinh doanh mà chờ phải giải cứu thì không phải là nhà kinh doanh. Tôi mong các tổ chức xã hội đừng xem việc đổ nông sản này, nông sản kia, đổ đầy đường, rồi chúng ta treo băng rôn giải cứu thì làm mất đi nhuệ khí, thậm chi mất đi tinh thần đúng của thị trường để đi vào nền sản xuất kinh tế thị trường. Khi nông dân ý thức được điều này thì mới dễ hình thành các liên kết”-ông Dương nói.

Cùng chung quan điểm này, bà Thái Hương, nhà sáng lập Tập đoàn TH cho rằng, điểm mấu chốt để giúp nền nông nghiệp Việt Nam cất cánh chính là dựa vào tư duy của doanh nghiệp, tư duy sản xuất, tư duy thị trường, tư duy tổ chức liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị. Tất cả tư duy này nên để chủ doanh nghiệp đưa ra. Chính phủ phải tạo cơ chế để thúc đẩy điều này. Doanh nghiệp sản xuất cái gì bao giờ cũng gắn với thị trường. Đất đai của chúng ta bỏ cây gì cũng sống, nhưng xuất phát phải là thị trường. Trước đây Chính phủ có nói tôi phải làm bò sữa đâu, và tôi làm nhiều người rất kỳ thị và hoài nghi. Cho nên hãy để doanh nghiệp nhìn nhận về thị trường”, bà Thái Hương đề nghị.

Ông Đinh Cao Khuê, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao, một đơn vị đang xây dựng nhiều nhà máy chế biến rau quả, cho biết: Tiềm năng thị trường là rất lớn, nhất là thị trường châu Âu (EU) khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) được thông qua. Minh chứng là nhà máy chế biến của Đồng Giao vừa khánh thành tại Gia Lai chưa ngày nào dừng hoạt động. Cho biết sắp tới đơn vị này sẽ tiếp tục xây dựng một số nhà máy chế biến mới, ông Đinh Cao Khuê đặc biệt nhấn mạnh đến việc phải có vùng nguyên liệu lớn, trong đó ngoài những vùng tập trung thì cần phải liên kết với người nông dân ở địa phương có nhà máy.

Phơi nông sản ở Thị trấn Thanh Bình, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Ảnh: T. Bình

Và sự vào cuộc của Hội Nông dân

Điểm lại 10 mặt hàng nông sản “giải cứu” trong 5 năm qua, thì có 8 thuộc ngành Trồng trọt: Gừng, hành tím, chuối, thanh long, dứa gai, dưa hấu, củ cải, khoai lang; 2 thuộc ngành Chăn nuôi là lợn và tôm hùm. Theo đó, là sự khó đoán định được sản phẩm cây có múi sẽ thế nào? Và nghề nuôi cá tra vẫn năm được, năm không. Đặt vấn đề như vậy, để thấy rõ hơn sự vào cuộc của Hội Nông dân Việt Nam trong 2 vấn đề lớn, đó là:

Bồi dưỡng kiến thức sản xuất cho nông dân: Nông nghiệp làm giàu là phải gắn sản xuất với kinh doanh. Nói ngắn gọn, nông nghiệp có ba khâu: Sản xuất – chế biến – tiêu thụ. Những khâu này phải trên nền tảng kiến thức, trước hết là kiến thức sản xuất của người nông dân. Vậy, kết nối nông dân là ai? Đó là hợp tác xã và tổ chức Hội Nông dân. Hộ nông dân có “thay đổi” cách nghĩ và được trang bị kiến thức cần thiết thì mới thay đổi được hành vi. Khởi đầu của tư duy và hành động là liên kết, lập vùng nguyên liệu tập trung mới có sản lượng nông sản đủ lớn. Thu nhận và thực hành quy trình canh tác theo một quy chuẩn do doanh nghiệp, doanh nhân yêu cầu thì mới có chất lượng cao.

Có hợp tác xã là có tư cách pháp nhân. Ba vấn đề trên là điều kiện bắt buộc để nông dân kết nối với doanh nghiệp, doanh nhân và tiêu thụ nông sản có hợp đồng. Bồi dưỡng tri thức sản xuất cho Nhà nông phải đồng thời hai việc “học và hành”. “Học” từ các chương trình bồi dưỡng, tập huấn kiến thức, “hành” từ các dự án nhỏ và vừa gắn liền với mô hình sản xuất tiên tiến, hiệu quả cao có trong thực tiễn. Bài học thắng lợi của tỉnh Sơn La trong tuyên truyền, vận động nông dân, xây dựng tổ chức Hội, hợp tác xã và liên kết với doanh nghiệp, doanh nhân trong tiêu thụ trái cây là một điển hình.

Nâng cao năng lực giám sát, phản biện xã hội trong xây dựng và thực thi chính sách “tam nông”: Dù nông nghiệp đã có tiến bộ trong nhiều năm qua, song chừng ấy chưa khỏa lấp được những khiếm khuyết của một nền sản xuất phân tán, chạy theo tâm lý đám đông, công nghệ chế biến luôn đi sau thiên hạ…Và phụ thuộc vào Trung Quốc với tỷ trọng 65- 70% hàng hóa nông sản xuất khẩu. Như vậy, “quả bóng” nông sản có lý do bên trong từ chính sách phát triển khoa học kỹ thuật – công nghệ chế biến và đầu tư cho nông nghiệp còn hụt hơi, thiếu tầm…Ví như sản lượng củ, quả tại các vùng nguyên liệu tập trung của Việt Nam khoảng 8,6 triệu tấn/năm. Mùa thu hoạch trái cây tập trung từ tháng 2 đến tháng 6; trong khi, công nghệ thu hoạch, bảo quản chưa đồng bộ, lạc hậu, công nghiệp chế biến mới chỉ đạt 5- 10% sản lượng. Lại khi thị trường có biến động thì đương nhiên xảy ra “giải cứu”.

Về đầu tư cho nông nghiệp, đã giảm dần từ 28,4% (giai đoạn 1991 – 2000) xuống 22,4% (giai đoạn 2001 – 2011) và dưới 8% từ năm 2012 cho đến nay.Theo cách tính ngang giá trong cơ chế thị trường, hễ sản xuất nông nghiệp tăng trưởng 1% thì mức đầu tư là 4%. Nếu thuận theo phép tính kinh tế ấy, thì liên tục trong 10 năm qua, đầu tư cho nông nghiệp ở Việt Nam luôn thiếu hụt ở mức 48 đến 52% so với yêu cầu…

Do vậy, giám sát, phản biện xã hội về chính sách của Hội Nông dân với Đảng, Chính phủ, cấp ủy, chính quyền địa phương ngay từ bước chuẩn bị, cho đến thi hành và tổng kết là một yêu cầu phát triển nội tại cả về tri thức, phương pháp và bản lĩnh của đội ngũ cán bộ Hội. Và Hội sẽ mãi trong lòng nông dân – nếu làm tốt vai trò đại diện.

Chất lượng nông sản thấp, lại phụ thuộc vào thị trường lớn Trung Quốc và bán qua tiểu ngạch, nên “giải cứu” như một căn bệnh cấp tính: Năm 2016 là chuối, hành tím; năm 2017 là dưa hấu, bí đỏ, thịt lợn; năm 2018 là dưa chuột, tỏi, dứa gai, su hào, củ cải; năm 2019 là nhãn, khoai lang, tiêu và tôm hùm…

Hoàng Trọng Thủy

Chủ đề:
Bạn đang xem danh mục: Thị Trường
Tin cập nhật
Sự kiện
Tam nông
  • Hội ND Nghệ An: Xây dựng tổ hội nghề nghiệp, hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu cây trồng

    Hướng tới hỗ trợ hội viên phát triển kinh tế hộ theo chuỗi giá trị, liên kết các lĩnh vực ngành nghề, thời gian qua, Hội Nông dân (ND) huyện Thanh Chương (Nghệ An) đã triển khai các giải pháp cụ thể để xây dựng chi hội ND, tổ hội ND nghề nghiệp. Đẩy mạnh […]

  • Thực hiện 3 có, 3 không để sản xuất, kinh doanh tiêu thụ nông sản, thực phẩm an toàn

    An toàn thực phẩm (ATTP) là nhiệm vụ hết sức cần thiết đối với toàn xã hội. Xác định được tính cấp thiết của vấn đề đó, giữa tháng 7.2020 Hội Nông dân tỉnh  Nghệ An đã phối hợp với UBND huyện Nghi Lộc phát động phong trào “Nông dân Nghệ An sản xuất, kinh […]

  • Đánh thức Đồng Chum

    Là xã vùng cao của huyện Đà Bắc, những năm qua, xã Đồng Chum đã khai thác tốt những tiềm năng, lợi thế của riêng mình để phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế rừng. Lợi thế từ rừng “vàng” Ông Lường Văn Thịnh – Chủ tịch UBND xã Đồng Chum cho biết: […]