21:33 - 26/07/2017

“Giải cứu” những ngành khai thác tài nguyên

“Giải cứu” đang dần trở thành hiện tượng quen thuộc và dễ bị lạm dụng, từ nông sản lan sang các ngành “ăn” tài nguyên như xi măng, than đá, dầu khí… khi gặp khó khăn trong quá trình sản xuất – kinh doanh với mong cầu Nhà nước hỗ trợ, ưu đãi, giảm thuế. Nếu cứ mãi “giải cứu” như vậy, nền kinh tế Việt Nam cùng nguồn tài nguyên đang dần cạn kiệt này sẽ đi tới đâu?

Lượng xi măng tồn kho lớn nhất từ trước đến nay (ảnh thế hải)

Vấn đề này đang gây tranh cãi gay gắt khi mới đây, Bộ Kế hoạch & Đầu tư (KH&ĐT) có đề xuất giảm thuế xuất khẩu để “giải cứu” lượng xi măng dư thừa nguồn cung ở trong nước.

Theo Bộ này, việc không được khấu trừ VAT đầu vào và chịu thuế suất thuế xuất khẩu 5% sẽ khiến chi phí xuất khẩu xi măng, clinker của Việt Nam có thể tăng lên, khó cạnh tranh với xi măng Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia và Nhật Bản, nhất là khi thị trường xi măng trong nước cung đã vượt cầu 20%.

Cớ sao phải “cứu”?

Tuy nhiên, đề xuất của Bộ KH&ĐT đã vấp phải sự phản ứng mạnh từ dư luận và giới chuyên gia. Họ chỉ rõ, đây là ngành công nghiệp đang tàn phá kinh khủng nguồn tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường, nên hà cớ gì phải “giải cứu”.

Hơn nữa, sự thất thế, mất cân đối của xi măng nội địa đã bộc lộ những điểm yếu của ngành này trong quy hoạch, trong đầu tư khi mọc lên tràn lan nhà máy mới với công nghệ lạc hậu, không dự đoán nhu cầu đã vội đầu tư sản xuất, làm gia tăng chi phí.

Theo báo cáo của Hiệp hội Xi măng Việt Nam, tổng công suất ngành xi măng hiện tới 86 triệu tấn, trong khi khả năng tiêu thụ của thị trường nội địa cả năm 2017 dự kiến chỉ khoảng 60 triệu tấn. Như vậy, 26 triệu tấn xi măng dư thừa phải tìm đường xuất khẩu.

Có ý kiến cho rằng Bộ Công thương là cơ quan quy hoạch phát triển ngành. Nếu có sai cũng chỉ trong dung sai cho phép 5 – 10%, vậy tại sao để khủng hoảng thừa đến 30 – 40% như hiện nay?

Khi đã hoạt động theo kinh tế thị trường, bất cứ ngành nghề nào cũng phải chấp nhận theo quy luật thị trường, lời ăn lỗ chịu, tại sao ngành xi măng phải nhờ Nhà nước “giải cứu”? Mà khi xuất khẩu xi măng cũng là xuất khẩu tài nguyên, nếu vậy phải giữ nguyên mức thuế xuất khẩu, không việc gì phải ưu đãi để giảm thuế.

Tương tự là câu chuyện của ngành than đá. Nửa đầu năm nay, lượng than đá tồn kho trong nước vào khoảng 10,22 triệu tấn. Vừa qua, Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV) đề xuất muốn hỗ trợ giảm thuế xuất khẩu để “giải cứu” hàng tồn kho nhưng mới đây Bộ Tài chính cho rằng chưa phù hợp.

Trong khi TKV “than” thuế xuất khẩu than của Việt Nam các năm gần đây liên tục tăng, đang cao hơn gần 10% so với các nước trong khu vực, thì Bộ Tài chính cho rằng việc giảm thuế xuất khẩu xuống dưới 10% và giảm thuế bảo vệ môi trường là vượt thẩm quyền của Chính phủ cũng như của Thủ tướng Chính phủ.

Điều đáng nói, dù là một ngành “ăn” tài nguyên nhưng thời gian qua, ngành than đá, cụ thể là TKV, bị đánh giá là kinh doanh kém hiệu quả, có tính cạnh tranh thấp. Những kết luận của Thanh tra Chính phủ về tài chính ở TKV trong tháng 3/2017 đã cho thấy những dự án đầu tư dàn trải không hiệu quả, thua lỗ hàng nghìn tỷ đồng do quản trị kém.

Còn với ngành dầu khí. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) được cho là đang trong giai đoạn khó khăn nhất khi vừa vướng vào 5 đại dự án thua lỗ, “đắp chiếu”, vừa chịu áp lực vì giá dầu xuống thấp, lượng dầu thô khai thác ngày càng sụt giảm.

Và việc “giải cứu” 5 dự án đang “hấp hối” của ngành dầu khí vẫn trong tình trạng “tiến thoái lưỡng nan” bởi sự vướng mắc về cơ chế “vốn Nhà nước” sẽ không được tiếp tục đầu tư để cứu những dự án này.

Hãy “tự cứu” trước!

Theo nhận định của Bộ Công Thương, trong sáu tháng đầu năm 2017, tốc độ tăng Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của ngành khai khoáng đã giảm 8,2% so với cùng kỳ năm 2016. Và trong sáu tháng cuối năm nay, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành liên quan tháo gỡ khó khăn trong công tác tiêu thụ những loại khoáng sản tồn đọng.

Nhân chuyện những ngành “ăn” tài nguyên đề xuất “giải cứu” vì gặp khó khăn, cũng nên nhắc lại trong Báo cáo Việt Nam 2035 có nêu rõ, quá trình tăng trưởng trong 25 năm qua đã gây ra những chi phí môi trường khá lớn ở Việt Nam như sự cạn kiệt và suy thoái nhanh chóng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Còn như nhận định trước đây của ông Nguyễn Phú Cường, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Công Thương), những ngành có năng suất lao động cao như năng lượng, thép, hóa chất vẫn chủ yếu dựa vào lợi thế khai thác tài nguyên sẵn có và gia tăng đầu tư.

Và như vậy, dù tăng trưởng kinh tế trong nước muốn tránh không phụ thuộc quá nhiều vào nguồn thu từ xuất khẩu tài nguyên – khoáng sản nhưng lĩnh vực này vẫn đang chiếm một vị trí rất đáng kể. Ví dụ với dầu thô, vừa qua, Chính phủ đã phải quyết khai thác 13,28 triệu tấn dầu thô để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 6,7% trong năm nay.

Trở lại câu chuyện “giải cứu” những ngành “ăn” tài nguyên như xi măng, than đá, dầu khí… mà mức thuế suất được cho là có vai trò lớn, phải thấy một thực tế rằng tỷ lệ thu ngân sách từ thuế so với GDP có xu hướng giảm trong những năm gần đây. Điều này tỷ lệ thuận với nguồn tài nguyên khoáng sản đang dần vơi cạn.

Với mức thuế xuất khẩu có thể là cao ở ngành khai khoáng nhưng theo giới chuyên gia, sự thay đổi mức thuế với đầu tư của doanh nghiệp (DN) theo ngành, hoặc xem xét mối tương quan giữa tỷ lệ thuế hữu hiệu bình quân mà các DN trong ngành phải nộp với mức tăng trưởng đầu tư khu vực phi Nhà nước ở cùng ngành đều cho thấy mức thuế không phải là điểm nghẽn.

Vì vậy, bất kể vấn đề liên quan đến thuế hay đòi hỏi cơ chế, chính sách hỗ trợ, ưu ái này nọ của ngành xi măng hay khai khoáng, cách tốt nhất cho các DN trong lĩnh vực này vẫn là phải “tự cứu” mình trước. Chỉ có như vậy nguồn tài nguyên mới không bị “ăn” một cách vô tội vạ!

Thế Vinh

Chủ đề:
Bạn đang xem danh mục: Sự kiện, Vấn đề quan tâmDanh mục ,
Tin cập nhật
Sự kiện
Tam nông