01:00 - 18/01/2018

“Đừng theo tư duy tiểu nông”

“Đáng lẽ phải lo mở rộng thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ đầu ra cho sản xuất nông nghiệp thì lại đưa ra tiêu chí xây dựng chợ, đến nỗi nhiều chợ khang trang tốn tiền tỷ được xây xong nhưng không có ai đến mua bán, phải bỏ hoang trong khi nông dân vẫn gặp khó khăn về mua các yếu tố sản xuất và tiêu thụ nông sản…”.

Đó là ý kiến của GS.TS Đỗ Thế Tùng – nguyên Trưởng khoa Kinh tế chính trị (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) trong một tham luận phát biểu tại Hội thảo “Phát huy vai trò chủ thể của giai cấp nông dân trong tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới thời kỳ hội nhập”, do Hội Nông dân Việt Nam và Tạp chí Cộng sản đồng tổ chức vào ngày 28-11-2016.

Trong bài viết mang tựa đề “Xu hướng biến đổi chủ thể phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới trong quá trình công nghiệp hóa” gửi tới Tạp chí Nông Thôn Mới, tác giả đề cập đến một số vấn đề phản biện chính sách nông thôn mới với góc nhìn mới, rất đáng suy ngẫm của một nhà khoa học về kinh tế chính trị. Bài viết này mang quan điểm và văn phong của tác giả. Để rộng đường thảo luận, mục Nghiên cứu – Trao đổi số này, Tạp chí Nông Thôn Mới xin giới thiệu tới bạn đọc bài viết của GS.TS Đỗ Thế Tùng. Tít bài do Tòa soạn đặt, trên cơ sở quan điểm của tác giả.

1.Phải nhận thức rõ sự biến đổi tính chất của những người trực tiếp sản xuất nông nghiệp qua các giai đoạn lịch sử khi nghiên cứu chủ thể phát triển nông nghiệp

Do mục tiêu của bài này là tìm hiểu sự biến đổi chủ thể phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân, nên không đi quá xa vào tiến trình lịch sử mà chỉ xét chủ thể phát triển nông nghiệp trong xã hội phong kiến và trong xã hội tư bản chủ nghĩa, nhất là trong thời kỳ quá độ từ phương thức sản xuất phong kiến sang phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Trong chế độ phong kiến nhân khẩu nông nghiệp chiếm đại bộ phận trong dân cư của một nước, kinh tế mang nặng tính chất tự cung tự cấp, nông phẩm chưa đi vào lưu thông hay chỉ có một bộ phận nhỏ nông phẩm đi vào lưu thông. Tư liệu sản xuất chủ yếu là ruộng đất do địa chủ nắm độc quyền sở hữu và chiếm hữu lao động thặng dư của những người sản xuất trực tiếp. Đại bộ phận những người sản xuất trực tiếp không phải là người sở hữu mà chỉ là người chiếm hữu ruộng đất thông qua lĩnh canh và nộp tô (1) (trừ một số ít nông dân tự do).

Ban đầu là địa tô lao dịch. Ở các nước theo dương lịch thì trong một số ngày của tuần lễ người sản xuất trực tiếp canh tác trên mảnh đất mà địa chủ giao, những ngày khác trong tuần họ lao động không công trên lãnh địa của địa chủ. Ở các nước theo âm lịch, như Việt Nam, thì địa chủ thường bắt những người nộp địa tô lao dịch làm việc cho địa chủ vào thời vụ (làm đất, cấy, gặt…), nên những người này thường chỉ được làm ruộng đã nhận của địa chủ không đúng thời vụ. Ở đây lao động mà người sản xuất trực tiếp làm cho bản thân mình (lao động tất yếu) tách rời về không gian và thời gian với lao động thặng dư mà họ làm cho địa chủ. Tuy vẫn là quan hệ bóc lột, nô dịch và thống trị nhưng so với những người nô lệ thì sự lệ thuộc đã giảm nhẹ dần cho đến khi chỉ còn là một nghĩa vụ cống nạp. Trong địa tô lao dịch, người sản xuất trực tiếp được lao động tự do trên mảnh đất mà họ chiếm hữu nên họ tích cực lao động và họ có thể cải thiện hoàn cảnh của mình, có thể trở nên khá giả và sản xuất được một số dôi ra ngoài các tư liệu sinh hoạt cần thiết của họ, nghĩa là họ có thể làm tăng tài sản của họ một cách độc lập, hay là làm tăng sự giàu có của họ.

Nếu đối lập với những người sản xuất trực tiếp không phải là những kẻ sở hữu ruộng đất tư mà là nhà nước, tức là vua chúa, thì địa tô kết hợp làm một với thuế khóa. Ở đây, không có quyền sở hữu tư nhân đối với ruộng đất, mặc dù vẫn có quyền chiếm hữu ruộng đất và quyền sử dụng ruộng đất, quyền này hoặc là của tư nhân hoặc là của cộng đồng(2). Trong trường hợp nhà nước miễn thuế nông nghiệp thì địa tô thuộc về người trực tiếp sản xuất.

Trình độ văn hóa của người sản xuất trực tiếp được nâng cao hơn, trình độ lao động của họ và của xã hội nói chung cũng phát triển hơn, đã dẫn đến sự chuyển hóa địa tô lao dịch thành địa tô sản phẩm. Ở đây, người sản xuất trực tiếp – người chiếm hữu các điều kiện lao động cần thiết – phải cung cấp cho người sở hữu những điều kiện lao động ấy, tức là chủ ruộng, những sản phẩm thặng dư, chẳng kể địa chủ là tư nhân hay nhà nước. Địa tô sản phẩm khác với địa tô lao dịch là lao động thặng dư không bắt buộc phải thực hiện dưới hình thái tự nhiên của nó, vì vậy cũng không phải thực hiện dưới sự giám sát và sự cưỡng chế trực tiếp của địa chủ hay của người đại biểu cho địa chủ. Trái lại từ nay người sản xuất trực tiếp thực hiện lao động thặng dư do những quy định của pháp luật, trên mảnh ruộng thực tế thuộc về anh ta, do anh ta canh tác chứ không phải như xưa kia trên đất của lãnh chúa. Người sản xuất trực tiếp có thể ít hoặc nhiều sử dụng toàn bộ thời gian lao động của anh ta, mặc dầu một phần thời gian đó vẫn phải lao động không công cho địa chủ, nhưng khác ở chỗ bây giờ địa chủ không nhận cái phần lao động thặng dư ấy dưới hình thái tự nhiên của nó nữa mà dưới hình thái sản phẩm trong đó lao động thặng dư được thực hiện. Lao động mà người sản xuất trực tiếp làm cho bản thân và lao động mà anh ta cung cấp cho địa chủ không còn tách biệt nhau về không gian và thời gian nữa. Ngoài ra, người sản xuất trực tiếp còn có thể kết hợp công nghiệp gia đình với nông nghiệp.

Địa tô sản phẩm có thể không rút hết lao động thặng dư, có thể dành cho người sản xuất trực tiếp một phạm vi hoạt động rộng rãi hơn, thậm chí có khả năng làm cho người sản xuất trực tiếp kiếm được những phương tiện để đến lượt anh ta lại trực tiếp bóc lột lao động của người khác.

Nhưng địa tô sản phẩm cũng có thể khiến những người sản xuất trực tiếp rơi vào cảnh nợ nần, nhất là khi thiên tai, dịch hại dẫn đến mất mùa, đến mức không thể tái sản xuất, càng không thể mở rộng sản xuất, và phải tự bằng lòng với một số tư liệu sinh hoạt tối thiếu để sống lay lắt qua ngày.

Sự phát triển thương nghiệp, công nghiệp thành thị và sự phát triển sản xuất hàng hóa nói chung, khiến việc chuyển hóa địa tô sản phẩm thành địa tô bằng tiền lúc đầu diễn ra lẻ tẻ, rồi sau đó diễn ra trên quy mô cả nước. Bây giờ, người sản xuất trực tiếp trả giá cả sản phẩm cho kẻ sở hữu ruộng đất chứ không nộp chính ngay sản phẩm ấy. Như vậy, một bộ phận sản phẩm của người sản xuất trực tiếp buộc phải chuyển thành hàng hóa. Do đó tính chất của toàn bộ phương thức sản xuất ít nhiều đã biến đổi, nhưng người sản xuất trực tiếp, vẫn như trước là người chiếm hữu ruộng đất, phải cung cấp cho địa chủ, với tư cách là kẻ sở hữu điều kiện sản xuất chủ yếu, một số lao động không công dưới hình thái một sản phẩm thặng dư đã chuyển hóa thành tiền. Tuy nhiên, quyền sở hữu những điều kiện lao động khác với ruộng đất (như nông cụ…) đã trở thành quyền sở hữu – lúc đầu trên thực tế về sau trên pháp lý, của người sản xuất trực tiếp.

Với địa tô bằng tiền mối quan hệ tập quán và truyền thống giữa kẻ sở hữu ruộng đất và những người bị lệ thuộc chiếm hữu một phần ruộng đất và canh tác chỗ đất đó, nhất thiết biến thành mối quan hệ thuần túy, có tính chất hợp đồng và được quy định theo những quy tắc cứng rắn của luật pháp thành văn. Vì vậy, người chiếm hữu và canh tác chỗ ruộng đất đó dĩ nhiên sẽ biến thành một người thuê đất giản đơn. Từ đó, những nông dân khá giả trở thành những tá điền tư bản chủ nghĩa, thuê ruộng đất của địa chủ và thuê người nghèo để canh tác theo phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, rồi sẽ trở thành nhà tư bản sau này. Đồng thời bắt đầu hình thành một giai cấp không có của, một giai cấp làm thuê để lấy tiền. Mặt khác, có những nhà tư bản từ trước tới nay vẫn ở ngoài phạm vi những vùng nông nghiệp, giờ đây cũng chuyển về nông thôn, đầu tư vào nông nghiệp và thuê ruộng đất của địa chủ, áp dụng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào nông nghiệp để chiếm hữu giá trị thặng dư. Bây giờ địa tô không còn là hình thái bình thường của giá trị thặng dư và của lao động thặng dư nữa mà là lợi nhuận siêu ngạch trội ra ngoài lợi nhuận bình quân.

Sự chuyển hóa địa tô sản phẩm thành địa tô tiền cũng tạo điều kiện cho một bộ phận những người chiếm hữu trước kia chuộc lại nghĩa vụ trả tô của mình và biến thành một nông dân độc lập, có quyền sở hữu đầy đủ về ruộng đất mà anh ta canh tác, tức là tiểu nông.

Quyền sở hữu ruộng đất là cơ sở để phát triển sự độc lập cá nhân. Nó là bước quá độ cần thiết đối với sự phát triển của bản thân nông nghiệp. Nhưng do bản chất của nó, tiểu nông chủ yếu dựa vào lao động thủ công, riêng lẻ, không phát triển được sức sản xuất xã hội của lao động, cản trở việc ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ, nên loại trừ những điều kiện của một nền canh tác hợp lý. Vì vậy, khi kinh tế thị trường phát triển, cạnh tranh ngày càng gay gắt thì sản xuất nhỏ của tiểu nông sẽ không tránh khỏi bị phá sản. Theo cách diễn đạt hình tượng của Ph. Angghen, “tuyệt đối chắc chắn là nền sản xuất tư bản chủ nghĩa quy mô lớn sẽ đè bẹp nền sản xuất quy mô nhỏ, bất lực và lỗi thời của họ, cũng như tàu hỏa đè bẹp một xe cút kít vậy”(3) . Một số ít tiểu nông vươn lên thành chủ trang trại kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa, một bộ phận tiểu nông thành người làm thuê, một bộ phận khác tự nguyên liên kết với nhau tập trung ruộng đất thành những trang trại lớn, cùng cày cấy chung và chia hoa lợi theo tỷ lệ đóng góp.

Cũng có một số tiểu nông cố trụ lại, nhưng như nhận xét của Cauxky, tiểu nông tồn tại được bên cạnh sản xuất hàng hóa lớn không phải là nhờ vào một năng xuất cao hơn mà là nhờ vào một sự lao động quá độ và một mức tiêu dùng không đầy đủ.

Như vậy, trong thời kỳ quá độ từ phương thức sản xuất phong kiến lên phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, hay là trong bước chuyển từ xã hội nông nghiệp lên xã hội công nghiệp, những người trực tiếp sản xuất nông nghiệp bao gồm:

Một là, những người lao động làm thuê, từ chỗ là người nông dân trở thành công nhân nông nghiệp.

Hai là, những nông dân trong các tổ chức kinh tế hợp tác sản xuất hàng hóa lớn.

Ba là, các nông hộ riêng lẻ, phân tán, sống bấp bênh trước nguy cơ phá sản hay trong cảnh bần cùng.

Xu hướng chung là những người trực tiếp sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng về chất nhưng càng giảm về lượng, vì phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không ngừng giảm bớt nhân khẩu nông nghiệp; do trong nông nghiệp tư bản khả biến cần thiết để canh tác một khoảnh đất nhất định lại giảm bớt một cách tuyệt đối khi ứng dụng tiến bộ kỹ thuật. Bởi vậy trong quá trình công nghiệp hóa tất yếu phải chuyển bớt lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Ở những nước có nền nông nghiệp hiện đại, tỷ lệ người trực tiếp sản xuất nông nghiệp rất thấp. Thí dụ: Ở Israel hiện nay lao động nông nghiệp chỉ chiếm 2,5% tổng lực lượng lao động cả nước, nhưng đã tự sản xuất được 95% nhu cầu thực phẩm và hàng năm xuất khẩu trung bình khoảng 3 tỷ USD nông sản. Hơn nữa, những người trực tiếp sản xuất nông nghiệp ấy cũng không còn là những nông dân theo nghĩa truyền thống nữa mà đã mang tính chất là công nhân nông nghiệp hay những thành viên trong các tổ chức kinh tế hợp tác sản xuất hàng hóa lớn. Nếu như năm 1955 một nông dân Israel chỉ nuôi được 15 người, thì năm 2014 một người trực tiếp sản xuất nông nghiệp ở Israel nuôi được hơn 100 người.

2.Thực trạng những người trực tiếp sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay và xu hướng biến đổi của lực lượng lao động này

Hiện nay chúng tôi chưa tìm được số liệu thống kê về những người trực tiếp sản xuất nông nghiệp ở nước ta. Nhưng từ tư liệu lịch sử nói trên có thể hình dung về mặt định tính lực lượng này bao gồm:

Thứ nhất, những người làm thuê trong các trang trại hay các doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp theo phương thức tư bản chủ nghĩa, và một ít công nhân nông trường quốc doanh.

Thứ hai, những nông dân liên kết theo các hình thức hợp tác để sản xuất hàng hóa quy mô lớn.

Thứ ba, những nông hộ riêng lẻ, phân tán, được giao quyền sử dụng ruộng đất với diện tích hạn hẹp, manh mún, dù đã thực hiện dồn điền, đổi thửa vẫn mang tính chất tiểu nông và luôn luôn rơi vào tình cảnh được mùa rớt giá, được giá mất mùa.

Thứ tư, một bộ phận thuộc dân tộc ít người ở những vùng núi cao vẫn sống bằng kinh tế tự nhiên, mang nặng tính chất tự cung, tự cấp.

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng ta đề ra chủ tương “Xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, nâng cao giá trị gia tăng, đẩy mạnh xuất khẩu” và “đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn để tăng năng suất, chất lượng hiệu quả và sức cạnh tranh, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài, nâng cao thu nhập và đời sống của nông dân”. “Có chính sách phù hợp để tích tụ, tập trung ruộng đất, thu hút mạnh các nguồn lực đầu tư phát triển nông nghiệp, từng bước hình thành các tổ hợp nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ công nghệ cao(4).

Để thực hiện chủ trương này thì phải tạo điều kiện cho bộ phận người trực tiếp sản xuất nông nghiệp trong loại hình thứ ba và thứ tư nói trên phát triển sản xuất hàng hóa, chuyển lên sản xuất hàng hóa lớn hoặc chuyển sang các ngành công nghiệp, dịch vụ. Nghĩa là loại hình thứ ba, thứ tư phải biến đổi theo yêu cầu xây dựng nền nông nghiệp hiện đại sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao.

Theo tinh thần đó, cần kiểm tra lại một số quan điểm trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, như “Phát huy vai trò chủ thể của hộ nông dân và kinh tế hộ” và “tạo điều kiện cho kinh tế hộ phát triển có hiệu quả trên các lĩnh vực nông nghiệp, công nhiệp, dịch vụ …”(5). Nếu sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao phát triển thì liệu xe cút kít kinh tế hộ có còn tồn tại được để đóng vai trò chủ thể hay sẽ bị tầu hỏa sản xuất lớn đè bẹp?.

Hay là “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế”(6). Kinh tế tư nhân sản xuất hàng hóa lớn là động lực thúc đẩy nền kinh tế thì đúng, còn kinh tế tư nhân sản xuất hàng hóa nhỏ theo kiểu tiểu nông thì chỉ là động lực trong bối cảnh chuyển nông nghiệp tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa, nhưng lại thành trở lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân nói chung và nông nghiệp nói riêng.

Cũng từ những tư liệu lịch sử và theo chủ trương của Văn kiện Đại hội XII nói trên, chúng tôi đề nghị bàn về ngay chính chủ đề cuộc hội thảo “Phát huy vai trò chủ thể của giai cấp nông dân trong tái cấu trúc kinh tế nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới”  (do Hội Nông dân Việt Nam và Tạp chí Cộng sản phối hợp tổ chức vào ngày 28-11-2016 –Tòa soạn chú dẫn):

Giai cấp nông dân theo nghĩa truyền thống hay theo nghĩa nào? Tái cấu trúc kinh tế nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới theo hướng xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn, ứng dựng công nghệ cao, thì chủ thể phát triển nông nghiệp sẽ không còn là nông dân theo đúng nghĩa truyền thống của từ này nữa, vậy khi ấy có còn phát huy vai trò của giai cấp nông dân hay là phải phát huy vai trò của công nhân nông nghiệp và công nhân trong các ngành dịch vụ phục vụ nông nghiệp?.

Chính vì vậy chúng tôi đặt tiêu đề bài viết này là: “Xu hướng biến đổi chủ thể phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới trong quá trình công nghiệp hóa”, với mong muốn Hội Nông dân Việt Nam sẽ hoạt động phù hợp với xu hướng nói trên. Việc xây dựng nông thôn mới cũng phải tuân theo tính quy luật khách quan của quá trình chuyển từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp chứ không phải theo tư duy của tiểu nông. Việc xây dựng nông thôn mới phải lấy nhiệm vụ đưa sản xuất nhỏ lên sản xuất hàng hóa lớn và nâng cao đời sống của người trực tiếp sản xuất nông nghiệp làm trọng tâm chứ không nên thiên về xây dựng kết cấu hạ tầng, dẫn đến hậu quả nợ đọng quá lớn mà sản xuất vẫn là sản xuất nhỏ, mức sống của người làm ruộng chậm được cải thiện. Thí dụ: đáng lẽ phải lo mở rộng thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ đầu ra cho sản xuất nông nghiệp thì lại đưa ra tiêu chí xây dựng chợ, đến nỗi nhiều chợ khang trang tốn tiền tỷ được xây xong nhưng không có ai đến mua bán, phải bỏ hoang trong khi nông dân vẫn gặp khó khăn về mua các yếu tố sản xuất và tiêu thụ nông sản. Chợ nông thôn chỉ phù hợp với tiểu nông, tiểu chủ và tiểu thương. Còn sản xuất hàng hóa lớn, như V.I. Lenin đã phân tích, tất nhiên là vượt ra ngoài giới hạn của làng xã, của cái chợ địa phương, của từng vùng, rồi vượt ra ngoài cả giới hạn quốc gia nữa.

Với Hội Nông dân thì hội viên sẽ tăng về chất, nhưng giảm về lượng, và giảm càng nhanh khi ứng dụng công nghệ cao và khi kinh tế hàng hóa càng phát triển, cho nên phải tính đến đặc trưng này để hướng hoạt động của Hội theo đúng quy luật. Hội phải tạo điều kiện cho chủ thể phát triển nông nghiệp trở thành công nhân nông nghiệp hay thành viên của các loại hình kinh tế hợp tác sản xuất hàng hóa lớn, hoặc là chuyển sang công nghiệp, dịch vụ chứ không còn là nông dân theo đúng nghĩa truyền thống nữa.

“Chợ nông thôn chỉ phù hợp với tiểu nông, tiểu chủ và tiểu thương. Còn sản xuất hàng hóa lớn, như V.I. Lenin đã phân tích, tất nhiên là vượt ra ngoài giới hạn của làng xã, của cái chợ địa phương, của từng vùng, rồi vượt ra ngoài cả giới hạn quốc gia nữa”.

GS TS Đỗ Thế Tùng

“Khi kinh tế thị trường phát triển, cạnh tranh ngày càng gay gắt thì sản xuất nhỏ của tiểu nông sẽ không tránh khỏi bị phá sản. Theo cách diễn đạt hình tượng của Ph. Angghen, “tuyệt đối chắc chắn là nền sản xuất tư bản chủ nghĩa quy mô lớn sẽ đè bẹp nền sản xuất quy mô nhỏ, bất lực và lỗi thời của họ, cũng như tàu hỏa đè bẹp một xe cút kít vậy” .

GS TS Đỗ Thế Tùng

 GS.TS Đỗ Thế Tùng –nguyên Trưởng khoa Kinh tế chính trị (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Chủ đề:
Bạn đang xem danh mục: Thị Trường
Tin cập nhật
  • 6 điều cần biết nếu người dân muốn bắn pháo hoa vào Tết này

    Pháo hoa ở đây được hiểu là sản phẩm có chứa thuốc pháo hoa, khi đốt chỉ gây ra âm thanh, ánh sáng, màu sắc và đặc biệt không gây ra tiếng nổ. Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội (PC06), Công an TP.HCM, cho biết thực hiện Nghị định […]

  • Vùng núi phía Bắc rét hại, nguy cơ Lào Cai, Lai Châu có mưa tuyết

    Ảnh hưởng của không khí lạnh tăng cường khiến nhiệt độ các tỉnh miền núi phía Bắc tiếp tục xuống thấp, dao động ở mức 4-7 độ C; nguy cơ xuất hiện mưa tuyết ở vùng núi cao Lào Cai và Lai Châu. Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, không khí […]

  • Nêu gương là bổn phận, nghĩa vụ của mỗi cán bộ, đảng viên

    Cán bộ, đảng viên phải luôn gương mẫu trong lời nói và việc làm, nói phải đi đôi với làm, luôn nêu cao trách nhiệm nêu gương, coi nêu gương là bổn phận, nghĩa vụ phải thực hiện. Cán bộ, đảng viên là nhân tố cơ bản, cốt lõi nhất của các tổ chức đảng, […]

Sự kiện
Tam nông
  • Đồng Tháp: 5/8 xã biên giới đạt chuẩn nông thôn mới

    Chiều ngày 15/1, tại tỉnh Đồng Tháp, UBND tỉnh Đồng Tháp tổ chức buổi họp mặt mừng Đảng – mừng Xuân Tân Sửu năm 2021 và báo cáo kết quả nổi bật thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (2016-2020). Tại buổi họp mặt, ông Phạm Thiện Nghĩa, Chủ […]

  • Sức sống mới ở miền quê Hiệp Cường

    Hiệp Cường là một xã của huyện Kim Động – mảnh đất tọa lạc ở cửa ngõ của TP. Hưng Yên. Mảnh đất này đang sải những bước dài trên con đường đổi mới để trở thành xã nông thôn mới kiểu mẫu vào năm 2025. Phát triển kinh tế nông nghiệp vững chắc Từ […]

  • Thanh Chương phát triển nông nghiệp toàn diện gắn với xây dựng nông thôn mới

    Trong những năm qua, huyện Thanh Chương luôn chú trọng phát triển các mô hình kinh tế nông nghiệp, sản phẩm OCOP, quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp tập trung gắn với tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo chuỗi liên kết giá trị và phát triển bền vững, hướng đến phát triển nông […]