• Trang chủ
  • Bàn tròn
  • Định vị liên kết trong chuỗi giá trị nông sản trong thời kỳ mới
08:06 - 25/02/2021

Định vị liên kết trong chuỗi giá trị nông sản trong thời kỳ mới

Liên kết là nội dung chính của Nghị định 98/2018 về Chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Thông điệp chính của Nghị định này là sản xuất nông nghiệp phải gắn chặt với yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước, bên cạnh đó các chủ thể tham gia trực tiếp trong chuỗi giá trị phải liên kết hợp tác chặt chẽ với nhau dựa trên các hợp đồng có các tiêu chuẩn chất lượng được thị trường chứng nhận để đảm bảo giảm thiểu các rủi ro về đầu ra và xây dựng thương hiệu nông sản. Theo lý thuyết về chuỗi giá trị thì liên kết là công cụ chính để điều phối hoạt động trong chuỗi giá trị nông sản thực phẩm với sự tham gia của nhiều chủ thể để có thể đạt được mục tiêu chung là chất lượng sản phẩm và an toàn thực phẩm với chi phí giao dịch thấp nhất.

Đến cuối năm 2019, trên địa bàn cả nước đã triển khai xây dựng và phát triển được 1.484 mô hình chuỗi NSTP an toàn.

Thị trường nông sản trong giai đoạn hậu Covid-19 sẽ thay đổi

Năm 2020, là một năm rất đặc biệt với các tác động đồng thời của đại dịch Covid-19, biến đổi khí hậu và dịch bệnh đến nông nghiệp Việt Nam, nhưng chúng ta đã vượt qua một cách ngoạn mục với giá trị xuất khẩu ngang bằng với kỷ lục xuất khẩu nông sản của 2019 là khoảng 41,25 tỷ USD (năm 2019 là 41,3 tỷ USD). Mặc dù có nhiều biến động, tuy nhiên Việt Nam vẫn duy trì được chiến lược xuất khẩu nông sản khá ổn định trong nhiều năm và đảm bảo an ninh lương thực trong nước. Đây là điều mà thế giới đánh giá rất cao về thành tựu của nông nghiệp Việt Nam, một nền nông nghiệp dựa trên chủ yếu là kinh tế hộ nông dân với đất nông nghiệp trên đầu người rất thấp so với thế giới. Theo Tạp chí Vork (Hà Lan), kinh nghiệm của một nước có chiến lược xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới là Hà Lan, trong năm 2020, mặc dù Covid-19 hoành hành, họ vẫn xuất khẩu nông sản đạt mức kỷ lục là 95,6 tỷ euro, cao nhất từ trước đến nay. Các mặt hàng xuất khẩu của Hà Lan chủ yếu là hoa và các rau quả chất lượng cao, bao gồm cả nhập khẩu và tái xuất. Nông nghiệp Hà Lan chủ yếu là các trang trại quy mô không lớn lắm nhưng ứng dụng công nghệ cao. Các chuỗi giá trị ngắn và địa phương được quan tâm nhiều hơn, tuy nhiên xuất khẩu rau hoa quả gần như không đổi. Điều này cho thấy sức chống chịu của nông nghiệp và lĩnh vực rau hoa quả là rất cao trong điều kiện biến động.

Nhìn lại năm 2020 ở Việt Nam, chúng ta cũng thấy những chuỗi giá trị nào có liên kết tốt, sản phẩm đảm bảo ATTP vẫn hoạt động khá ổn định, các chuỗi giá trị ngắn cung cấp cho các siêu thị trong nước vẫn đạt kết quả tốt. Các chuỗi giá trị không có liên kết chặt, hoạt động tiểu ngạch thì gặp khó khăn. Trong điều kiện đại dịch Covid-19 cũng như Dịch tả lợn châu Phi vấn đề đảm bảo ATTP được người tiêu dùng trên thế giới đặt lên ưu tiên hàng đầu. Theo dự báo của FAO thì nhu cầu lương thực, thực phẩm trên thế giới sẽ tăng lên trong giai đoạn hậu Covid-19 do đứt gãy chuỗi giá trị. Giá lương thực đã tăng 20-40% ở các nước nhập khẩu trên thế giới, trong khi ở Việt Nam tăng 3,1%. Nhu cầu của một số mặt hàng như gạo, cao su, cà phê, rau quả tăng cao. Một số thị trường cao cấp mới cũng hướng đến đặt hàng của Việt Nam do Việt Nam có uy tín về kiểm soát Covid-19 tốt, do đó sẽ ít rủi ro về xuất nhập khẩu hơn. Đây chính là cơ hội thị trường lớn cho xuất khẩu nông sản Việt Nam trong giai đoạn hậu Covid-19.

Thực trạng liên kết trong phát triển chuỗi giá trị NSTP an toàn ở Việt Nam

Trong thời gian qua, một số mô hình chuỗi giá trị NSTP an toàn đã được hình thành một cách tự phát ở nước ta. Hiện nay phổ biến 3 mô hình quản trị chuỗi giá trị nông sản là: 1) Hợp tác xã/Tổ hợp tác liên kết với doanh nghiệp; 2) Doanh nghiệp sản xuất liên kết với doanh nghiệp phân phối; 3) Doanh nghiệp thực hiện toàn bộ các khâu trong chuỗi; trong đó mô hình thứ nhất là phổ biến nhất và gặp thách thức lớn nhất về quản lý ATTP.

Để giải quyết các thách thức về ATTP trong chuỗi, từ năm 2013, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã ban hành chính sách xác nhận chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn, tuy nhiên việc thực hiện tương đối chậm, chỉ đến giai đoạn 2016-2019, số chuỗi nông sản của cả nước mới tăng lên nhanh chóng. Năm 2016, trên toàn quốc có 283 chuỗi cung ứng nông sản được xây dựng, đến năm 2019 con số này tăng lên thành 1.484. Tuy nhiên, tỷ lệ chuỗi được xác nhận/chuỗi được xây dựng chỉ đạt 43,6%, chứng tỏ hiệu quả của các chuỗi còn thấp. Tính đến cuối năm 2019, trên địa bàn cả nước đã triển khai xây dựng và phát triển được 1.484 mô hình chuỗi NSTP an toàn (tăng 388 chuỗi so với năm 2018) với 2.374 sản phẩm (tăng 948 sản phẩm so với 2018) và 3.267 địa điểm bán hàng được kiểm soát theo chuỗi nông sản ATTP (tăng 93 địa điểm so với 2018).

Nguyên nhân các doanh nghiệp chưa muốn làm xác nhận chuỗi là do sau khi làm xác nhận thì giá thành tăng lên (do tăng chi phí xét nghiệm, tần suất kiểm tra cao hơn…), nhưng giá bán tăng hơn không đáng kể (khoảng 20%). Chứng nhận chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn do Nhà nước thực hiện, nhưng chưa được truyền thông đầy đủ nên chưa được người tiêu dùng biết đến, chưa sẵn sàng chi trả cao hơn. Chưa kể đến việc khi cơ sở sản xuất, kinh doanh trong chuỗi không tuân thủ quy định hoặc mẫu kiểm nghiệm không đạt yêu cầu ATTP sẽ bị hủy bỏ xác nhận đối với sản phẩm và xử lý theo quy định. Bên cạnh đó, việc triển khai xác nhận chuỗi cung ứng NSTP an toàn được các địa phương thực hiện đơn lẻ, do vậy các chuỗi giá trị liên tỉnh, xuất khẩu không được xác nhận, trong khi đây là những chuỗi mang lại giá trị cao cho nông nghiệp địa phương.

Năm 2020, giá trị xuất khẩu của nước ta ngang bằng với kỷ lục xuất khẩu nông sản của 2019.

Liên kết đóng vai trò trung tâm trong mô hình quản lý chuỗi giá trị NSTP trong thời gian tới

Để có thể nắm bắt được các cơ hội thị trường nông sản trong tương lai, việc thúc đẩy liên kết trong chuỗi giá trị đóng vai trò trong Mô hình quản lý chuỗi NSTP an toàn. Mô hình quản lý 5 đề xuất được cấu thành bởi 3 nhóm tác nhân chính: Nhóm các tác nhân trực tiếp tham gia trong chuỗi giá trị; nhóm các tác nhân quản lý là cơ quan nhà nước; nhóm các tác nhân tư nhân và dịch vụ công.

Nhóm các tác nhân trực tiếp tham gia trong chuỗi giá trị: Trong nhóm này, các tác nhân cùng thực hiện các quy định của Nhà nước và yêu cầu của thị trường (chế biến, người tiêu dùng) về ATTP; cùng nhau xây dựng hệ thống sản xuất, chế biến, kinh doanh đáp ứng các quy chuẩn, tiêu chuẩn ATTP bắt buộc và đăng ký chứng nhận tiêu chuẩn chất lượng ATTP tự nguyện, được chứng nhận bởi tổ chức chứng nhận bên thứ ba hay chứng nhận có sự tham gia. Ngoài ra, họ cũng cần đẩy mạnh việc xây dựng và tham gia vào hệ thống quản lý ATTP trong chuỗi theo cả chiều dọc và chiều ngang như các hợp tác xã. Các tác nhân trong chuỗi cũng cần hợp tác để thực hiện minh bạch thông tin nhằm thực hiện truy xuất nguồn gốc. Các cơ quan cung cấp dịch vụ truy xuất nguồn gốc thuộc khu vực tư nhân, hiện nay phổ biến sử dụng truy xuất nguồn gốc điện tử trên website bằng mã QR phù hợp với tiêu chuẩn thông tin quốc tế GS1 hay trên các nền tảng số như chuỗi khối (blockchain). Việc truy xuất nguồn gốc có thể là tự nguyện hay bắt buộc tuỳ theo quốc gia và theo mức độ rủi ro về ATTP của các chuỗi. Xu hướng của hệ thống ATTP hiện đại là áp dụng truy xuất nguồn gốc chuyển từ tự nguyện sang bắt buộc đối với các mặt hàng nhạy cảm về nguy cơ ATTP như thịt, thủy sản hay sữa.

Nhóm các tác nhân quản lý là cơ quan nhà nước: Trước đây, Nhà nước tập trung kiểm soát sản phẩm cuối cùng dựa trên ngưỡng dư lượng ATTP để xử phạt, tuy nhiên tiếp cận này không hiệu quả. Gần đây, chính phủ các nước đã chuyển dần sang mô hình nhà nước có vai trò truyền thông về nghĩa vụ đảm bảo ATTP là của cơ sở sản xuất; tạo môi trường thuận lợi cho lưu thông các chuỗi giá trị NSTP an toàn phát triển, hướng dẫn cho khu vực tư nhân thực hiện tốt việc tự nguyện áp dụng quy định ATTP và quản lý rủi ro thông qua áp dụng tiêu chuẩn thực hành tốt, kết hợp với thanh tra, giám sát và phân tích sản phẩm cuối cùng. Trong hệ thống quản lý ATTP hiện đại, Nhà nước có vai trò chính là xây dựng khung thể chế, chính sách liên quan đến vấn đề quản lý ATTP và truyền thông, hướng dẫn khu vực tư nhân thực hiện quy định về ATTP, xây dựng các quy chuẩn, tiêu chuẩn bắt buộc và tự nguyện về ATTP. Bên cạnh đó, Nhà nước còn thực hiện việc thanh tra và giám sát ATTP tại các khâu trong chuỗi theo các quy chuẩn và tiêu chuẩn dựa trên các đánh giá rủi ro về ATTP cũng như công nhận, quản lý, giám sát chặt chẽ các tổ chức chứng nhận tư nhân bên thứ ba.

Ở một số nước như Nhật Bản, cơ quan quản lý nhà nước có thể uỷ quyền qua hợp đồng cho một số tổ chức tư nhân thực hiện việc kiểm soát các tổ chức chứng nhận chất lượng. Việc phổ biến thực hiện mô hình quản lý chuỗi giá trị NSTP an toàn sẽ giảm sức ép của Nhà nước về đảm bảo ATTP và công tác quản lý ATTP có hiệu quả hơn. Nhà nước sẽ giám sát việc công bố các tiêu chuẩn của các chuỗi để điều chỉnh.

Nhóm các tác nhân tư nhân và dịch vụ công cung cấp các dịch vụ hỗ trợ chuỗi: Các tổ chức cung cấp dịch vụ bao gồm các tổ chức chứng nhận và các tổ chức cung cấp dịch vụ. Các tổ chức chứng nhận bên thứ ba có vai trò cấp giấy chứng nhận tiêu chuẩn ATTP (GAPs, GMP, HACCP…) cho các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh sản phẩm ATTP cũng như kiểm tra, giám sát, phân tích việc tuân thủ quy định về tiêu chuẩn ATTP của họ. Các tổ chức này có thể là tư nhân hay công ích Nhà nước nhưng đều chịu sự chỉ định và giám sát của Nhà nước một cách chặt chẽ để đảm bảo uy tín với người tiêu dùng. Các tổ chức chứng nhận cũng cần hội nhập quốc tế để hài hòa các tiêu chuẩn và phương thức chứng nhận. Ở các nước phát triển, vai trò của các hiệp hội nghề nghiệp rất quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ chuỗi giá trị và đảm bảo chất lượng.

Một số giải pháp nhân rộng liên kết cùng với mô hình quản lý chuỗi NSTP an toàn trong giai đoạn hậu Covid-19
Phát triển mô hình quản lý chuỗi NSTP an toàn là một định hướng quan trọng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản, thu nhập của cư dân nông thôn và đảm bảo ổn định xuất khẩu nông sản trong thời gian tới. Để thực hiện được mục tiêu này cần thực hiện một số giải pháp sau.

Một là, thực hiện tiếp cận quản lý rủi ro ATTP (bao gồm đánh giá rủi ro, quản lý rủi ro và truyền thông về rủi ro). Công tác đánh giá rủi ro ATTP cần huy động các viện nghiên cứu, trường đại học tham gia để huy động cán bộ có trình độ và giải quyết vấn đề thiếu công chức có thể làm công việc này trong các cơ quan nhà nước cấp bộ và tỉnh.

Hai là, Nhà nước cần chuyển nhanh tiếp cận quản lý ATTP từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Vấn đề tiếp cận quản lý ATTP hiện nay còn thiên về tiền kiểm, do đó các tác nhân sản xuất kinh doanh thường coi trách nhiệm ATTP là của Nhà nước. Nhà nước cần chuyển nhanh hơn sang tiếp cận quản lý ATTP hậu kiểm, theo đó các tác nhân tự chịu trách nhiệm và tự công bố theo các tiêu chuẩn chất lượng ATTP của Nhà nước và tư nhân. Mô hình chuỗi giá trị NSTP an toàn phù hợp với tiếp cận hậu kiểm về ATTP và cần môi trường chính sách hậu kiểm để phát triển, tránh tình trạng thực hiện cả hai tiếp cận cùng lúc, gây khó cho các chủ thể sản xuất kinh doanh thực phẩm.

Ba là, thể chế hóa chuỗi giá trị NSTP an toàn, lồng ghép với chính sách xác nhận chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn với chính sách thúc đẩy Liên kết của Nghị định 98. Mô hình chuỗi giá trị NSTP an toàn tạo điều kiện định hướng cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh tự nguyện áp dụng các tiêu chuẩn về ATTP nhằm tăng chất lượng và tính cạnh tranh của chuỗi NSTP, đáp ứng tốt nhu cầu của người tiêu dùng.

Bốn là, thúc đẩy nhanh việc hình thành hệ thống thanh tra chuyên ngành ATTP trên toàn quốc nhằm tăng hiệu quả thanh tra theo quản lý rủi ro và giảm chồng chéo, tạo thông thoáng cho các tác nhân chuỗi giá trị.

Năm là, tập trung đầu mối quản lý các cơ sở chứng nhận bên thứ ba theo tiêu chuẩn chất lượng ATTP. Nhà nước đã ban hành các tiêu chuẩn mới về VietGAP, hữu cơ, tuy nhiên hạn chế hiện nay là thiếu các tổ chức chứng nhận bên thứ ba chưa đủ chuyên nghiệp và uy tín với khách hàng. Công tác chỉ định và quản lý tổ chức chứng nhận đối với các cơ quan trong Bộ NN&PTNT còn quá phân tán, thiếu cán bộ đảm trách vấn đề này.

Tóm lại, quản lý ATTP theo chuỗi cần bắt đầu từ nhận thức ATTP là trách nhiệm của tất cả các chủ thể tham gia trực tiếp trong chuỗi giá trị, liên kết chặt chẽ với nhau, không phải là chỉ riêng trách nhiệm của Nhà nước. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, mô hình chuỗi giá trị NSTP bền vững thành công là các chuỗi giá trị có sự tự nguyện áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng ATTP của khách hàng và dựa vào đó để vận hành hệ thống quản trị chuỗi. Tuy nhiên cần sự hỗ trợ của Nhà nước về đào tạo tư vấn để thay đổi nhận thức của các tác nhân chuỗi, từ đó thay đổi mô hình kinh doanh hướng đến khách hàng và người tiêu dùng, từng bước áp dụng công nghệ thông tin nhằm chuyển đổi số cho mô hình chuỗi giá trị NSTP an toàn. Việc khuyến khích liên kết theo chuỗi giá trị sẽ đóng vai trò trung tâm trong phát triển bền vững của chuỗi giá trị nông sản Việt trong thời gian tới.

Theo dự báo của FAO thì nhu cầu lương thực, thực phẩm trên thế giới sẽ tăng lên trong giai đoạn hậu Covid-19 do đứt gãy chuỗi giá trị. Giá lương thực đã tăng 20-40% ở các nước nhập khẩu trên thế giới, trong khi ở Việt Nam tăng 3,1%. Nhu cầu của một số mặt hàng như gạo, cao su, cà phê, rau quả tăng cao. Một số thị trường cao cấp mới cũng hướng đến đặt hàng của Việt Nam do Việt Nam có uy tín về kiểm soát Covid-19 tốt, do đó sẽ ít rủi ro về xuất nhập khẩu hơn. Đây chính là cơ hội thị trường lớn cho xuất khẩu nông sản Việt Nam trong giai đoạn hậu Covid-19.

Ở một số nước như Nhật Bản, cơ quan quản lý nhà nước có thể uỷ quyền qua hợp đồng cho một số tổ chức tư nhân thực hiện việc kiểm soát các tổ chức chứng nhận chất lượng. Việc phổ biến thực hiện mô hình quản lý chuỗi giá trị NSTP an toàn sẽ giảm sức ép của Nhà nước về đảm bảo ATTP và công tác quản lý ATTP có hiệu quả hơn. Nhà nước sẽ giám sát việc công bố các tiêu chuẩn của các chuỗi để điều chỉnh.

PGS. TS. Đào Thế Anh

Chủ đề:
Bạn đang xem danh mục: Bàn tròn
Tin cập nhật
Sự kiện
Tam nông
  • Nuôi lợn rừng lai thu lợi nhuận cao

    Những năm gần đây, tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã xuất hiện nhiều mô hình chăn nuôi hiệu quả phù hợp với điều kiện nhiều hộ nông dân. Trong đó mô hình kinh tế trang trại chăn nuôi heo (lợn) rừng lai đang được nhân rộng, góp phần xóa nghèo và làm giàu […]

  • Hàng chục hecta chuối bị bệnh vàng lá, nông dân ngậm ngùi chặt bỏ

    Nhiều nông hộ trồng chuối ở Lào Cai đang điêu đứng vì buộc phải chặt bỏ cả vườn chuối do bị nhiễm bệnh vàng lá Panama. Vay hơn 100 triệu để trồng chuối, sắp cho thu hoạch thì cả vườn bỗng dưng đổ bệnh không thể cứu vãn. Chẳng còn cách nào khác, anh Thào […]

  • Nghề làm muối ở Bến Tre “bỏ thì thương, vương thì tội”

    Bến Tre là một trong số ít địa phương của cả nước duy trì được nhiều diện tích muối thương phẩm. Đây là nghề sản xuất truyền thống rất vất vả nhưng hiệu quả kinh tế không cao do giá muối bấp bênh. Hướng đi nào cho hạt muối Bến Tre, đây là vấn đề […]