10:06 - 17/09/2020

Để gạo Việt Nam có chỗ đứng tại thị trường châu Âu

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, năm 2019, ngành sản xuất lúa gạo trong nước đã xuất khẩu thành công 6,37 triệu tấn, trị giá 2,8 tỷ USD, tăng 4,2% về lượng so với năm 2018. Nhưng trong danh mục các thị trường nhập khẩu gạo lớn của Việt Nam không có tên các nước thành viên EU (châu Âu), mà chỉ có Trung Quốc, Indonesia, Bangladesh, Philippines, Hồng Kông (Trung Quốc), Singapore và một số thị trường châu Phi như Bờ Biển Ngà, Ghana…

Như vậy, dù là quốc gia xuất khẩu gạo thứ ba thế giới, nhưng hạt gạo Việt vẫn còn vắng bóng tại EU. Đâu là nguyên nhân của tình trạng này và giải pháp là gì? Xoay quanh nội dung này, Tạp chí Nông Thôn Mới đã có cuộc trao đổi với ông Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp, Nông thôn.

TS. Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Xin ông cho biết hiện Việt Nam xuất khẩu những loại gạo nào sang châu Âu và khối lượng là bao nhiêu, thưa ông?

Trước hết, có lẽ nên xác định rõ lại về đối tượng thị trường trong phỏng vấn này. Thị trường chúng ta đề cập chủ yếu sẽ là thị trường EU, một đại diện chính cho thị trường châu Âu. Châu Âu là vùng lãnh thổ gồm hơn 50 quốc gia, còn EU chiếm hơn một nửa số quốc gia ở đây là 27 quốc gia. Tuy nhiên, kim ngạch thương mại của khu vực này với khoảng 11,3 nghìn tỷ USD (gồm cả xuất khẩu và nhập khẩu) đã chiếm khoảng 80% tổng kim ngạch thương mại của toàn châu Âu trong năm 2019. Rào cản thương mại vào thị trường này cũng khắt khe hơn so với phần còn lại của châu Âu, như Nga cũng là một phần của châu Âu.

Hiện nay xuất khẩu gạo của Việt Nam sang EU cũng chưa nhiều. Trong 6 tháng 2020, gạo thơm là mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang EU đạt 22,8 nghìn tấn, trị giá 13,0 triệu USD (chiếm 73,9% về khối lượng và 75,5% về giá trị); so với 6 tháng 2019, xuất khẩu gạo thơm sang EU đã tăng 73,5% về khối lượng và 74,1% về giá trị. Đứng thứ hai là gạo trắng đạt 4,5 nghìn tấn, trị giá 2,0 triệu USD (14,7% về khối lượng và 11,7% về giá trị); so với 6 tháng 2019, xuất khẩu gạo trắng sang EU đã giảm 40,7% về khối lượng và 31,8% về giá trị. Đứng thứ ba là gạo Japonica đạt 2,8 nghìn tấn, trị giá 1,5 triệu USD (9,1% về khối lượng và 8,5% về giá trị); so với 6 tháng 2019, xuất khẩu gạo Japonica sang EU đã tăng 57,7% về khối lượng và 55,9% về giá trị.

Thực tế, số liệu thống kê hải quan không phân rõ gạo xuất khẩu theo từng loại giống cụ thể, nên rất khó khăn trong việc phân định rõ tỷ trọng xuất khẩu theo giống gạo để qua đó thúc đẩy chính sách cho từng loại gạo riêng biệt. Tuy nhiên, qua khảo sát thông tin chung, chúng tôi nhận định thấy một số mặt hàng gạo thơm và gạo trắng được xuất khẩu nhiều sang EU cụ thể như KDM, Đài thơm 8, ST24, OM4900, Nàng Hoa.

Ông cho biết gạo Việt Nam xuất khẩu vào châu Âu chịu cạnh tranh trực tiếp từ gạo của quốc gia nào và tại sao gạo của họ lại chiếm lĩnh ưu thế hơn?

Tổng hợp ước tính của USDA và ITC, trong năm 2019, EU đã nhập khẩu khoảng 2,16 triệu tấn gạo, trị giá khoảng 1,42 tỷ USD. Trong đó, nước Pakistan chiếm 23,1%, Thái Lan 17,9%, Campuchia 12,2%, Myanmar 12,2%, Ấn Độ 11,0%… còn Việt Nam chỉ chiếm khoảng 2,1%. Như vậy, có thể thấy gạo Pakistan rất được ưa chuộng ở EU đặc biệt là Basmati – giống được trồng nhiều ở Pakistan và Ấn Độ. Thực tế, Ấn Độ đã từng xuất khẩu được nhiều sang EU nhưng sau đó đã bị mất phần lớn thị trường cho Pakistan. Nguyên nhân là do từ 2017 khi EU dần siết chặt quy định về mức dư lượng tối đa cho phép đối với chất tricyclazole trong các mặt hàng nông sản từ 1 mg/kg xuống 0,01mg/kg, Ấn Độ – quốc gia sử dụng khá nhiều hoạt chất này để diệt trừ sâu bệnh trên lúa, đã bị sụt giảm mạnh kim ngạch xuất khẩu gạo sang EU.

Tuy nhiên, điều này cũng chỉ để nhấn mạnh thị trường EU rất ưa thích các loại gạo hạt dài, khô mịn, ít dính sau khi nấu. Điều này bắt nguồn từ sở thích ăn uống của người dân khu vực này. Khẩu vị người dân EU không ưa thích việc chỉ nấu cơm trắng đơn giản, sau đó ăn kèm với các món ăn khác như châu Á, vì họ cảm thấy ăn như vậy khá “nhạt nhẽo”. Họ thường sẽ nấu sơ gạo, sau đó sẽ rang/nấu trộn với các loại thực phẩm phụ thêm như dầu ăn, bơ, phô mai… để khiến món ăn thêm nhiều mùi vị. Đối với cách nấu này, nếu là loại gạo mềm, dẻo, dính thì gia vị sẽ khó ngấm đều xung quanh hạt cơm và khiến món ăn không ngon miệng; vì thế, thị trường EU sẽ không ưa thích các loại gạo mềm, dẻo mà gạo Việt Nam lại chủ yếu là loại này. Thực tế, đa số gạo Thái Lan, Campuchia, Myanmar xuất khẩu vào EU cũng thuộc loại này. Mặc dù gạo Thái Lan có thể có mức giá cao hơn khoảng 10-20% so với gạo Campuchia hoặc Myanmar, nhưng do chất lượng ổn định, nên vẫn được ưu tiên nhập khẩu nhiều hơn. Myanmar và Camphuchia cũng xuất khẩu gạo nhiều sang EU do được ưu đãi về thuế nhập khẩu vào thị trường này nên nhiều năm nay cũng đã có mặt ở thị trường này.

Chế biến gạo phục vụ xuất khẩu. (Ảnh: TTXVN)

Được biết gạo Việt thường là hạt dẻo và dính, còn khẩu vị của đa số người dân châu Âu là gạo hạt dài và không dính, do đó gạo Việt Nam không được ưa chuộng tại thị trường này. Điều đó cho thấy Việt Nam chưa thực sự hiểu rõ thị trường. Vậy ông nhận định thế nào về vấn đề này?

Thật ra việc tìm hiểu nhu cầu thị trường châu Âu hay bất cứ một thị trường nào hiện nay cũng không thật sự khó khăn. Hiện nay chúng ta có một hệ thống tham tán rộng khắp có thể là những kênh cung cấp rất tốt các thông tin về thị trường. Bên cạnh đó, ở một số thị trường lớn như EU chúng ta có những tham tán về nông nghiệp vì thế họ có thể cung cấp thông tin rất tốt về thị trường cho các nhà xuất khẩu. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng dần dần chủ động hơn trong việc tiếp cận với các nhà nhập khẩu. Hàng năm Bộ NN&PTNT, Bộ Công thương cũng tổ chức rất nhiều cuộc xúc tiến thương mại tại các thị trường khác nhau, các cuộc triển lãm, hội chợ quốc tế, diễn đàn thương mại và đầu tư, tổ chức gặp mặt với các tham tán, doanh nghiệp, internet… Đây là những kênh rất tốt để hiểu rõ hơn về thị trường.

Thực tế như tôi được biết các doanh nghiệp xuất khẩu gạo cũng hiểu biết rõ về nhu cầu thị trường EU dù nhu cầu nhập khẩu của thị trường này như tôi đề cập ở trên người tiêu dùng EU thích gạo hạt dài, không dính và họ thường không ăn riêng như chúng ta, họ thường để rang hay chế biến. Và chất lượng gạo của chúng ta cũng rất tốt tuy nhiên trước đây chúng ta chưa tiếp cận được một phần do nhu cầu tiêu thụ thị trường này còn ít, một phần do mức thuế trước đây quá cao lên đến 175 EUR/tấn với gạo xay xát, 65 EUR/tấn với gạo tấm, 211 EUR/tấn với thóc. Đây là một khó khăn rất lớn cho gạo Việt Nam khi gạo của Campuchia, Myanmar được miễn thuế và không bị áp dụng hạn ngạch. Ngoài ra việc sản xuất đại trà, chưa theo quy chuẩn cũng còn khá phổ biến trong sản xuất lúa gạo Việt Nam. Do sản xuất đại trà, không truy suất nguồn gốc, mà lại có nhiều tác nhân trung gian tham gia chuỗi giá trị, nên khó truy suất nguồn gốc xuất xứ. Trong bối cảnh đó, việc hướng đến các thị trường dễ tính, có nhu cầu an ninh lương thực cao sẽ trở thành thói quen.

Khi hiệp định EVFTA có hiệu lực chắc chắc chúng ta sẽ có nhiều thuận lợi hơn tiếp cận thị trường này và chắc chắc với hạn ngạch 80 ngàn tấn thì các doanh nghiệp của Việt Nam hoàn toàn có thể đáp ứng được. Quá trình trao đổi thương mại sẽ ngày càng giúp chúng ta sẽ hiểu rõ thị trường này hơn và đưa gạo Việt Nam xâm nhập nhiều hơn vào thị trường này.

Còn có những lý do nào khác khiến gạo Việt Nam chưa thực sự được ưa chuộng tại châu Âu? (ví dụ như đóng gói không đẹp mắt, khối lượng lớn trong 1 bao bì, quảng bá sản phẩm chưa tốt…)

Hiện nay chúng ta có hệ thống giống rất tốt và đa dạng có thể đáp ứng tốt nhu cầu của bất kỳ thị trường nào trong đó có thị trường EU. Hiện nay, Việt Nam xuất khẩu sản lượng ít sang EU nhưng chúng ta đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của thị trường này. Không thể nói là gạo Việt Nam chưa được ưa chuộng mà là gạo chúng ta chưa phổ biến ở thị trường này. Ngoài những nguyên nhân liên quan đến yêu cầu cao của thị trường về vệ sinh an toàn thực phẩm, hạn ngạch thì việc quảng bá sản phẩm xúc tiến thương mại cũng là một trong các khó khăn của doanh nghiệp Việt Nam.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng chưa chú ý nhiều đến mẫu mã và khối lượng sản phẩm. Thực tế, người dân EU không ăn nhiều gạo, lương thực chính của họ là các loại bánh mỳ, khoai tây… món cơm sẽ chủ yếu được ăn vào các dịp cuối tuần, hoặc các dịp đặc biệt, và được coi như một sự đổi vị món ăn. Do đó, việc đóng túi nhỏ 0,5-1kg là hoàn toàn cần thiết. Thậm chí, trong các bao gạo nhỏ này, nên phân chia thành các túi khoảng 125gr – tức là đủ một suất ăn, vì trong trường hợp không ăn hết, họ sẽ không phải lo lắng đến vấn đề bảo quản. Bên cạnh đó, do người tiêu dùng EU không có truyền thống ăn gạo, nên họ cũng không mua hẳn nồi cơm điện để sử dụng thường xuyên như người dân châu Á nhiều khi họ chưa chắc đã hiểu rõ cách nấu loại lương thực này. Do đó, trên bao bì rất cần thiết có in cách sử dụng kỹ lưỡng ví dụ bao nhiêm gram gạo nấu với bao nhiêu nước và trong thời gian bao lâu, để họ có thể đọc theo hướng dẫn để nấu. Ngoài ra, người dân thị trường này rất quan tâm đến vấn đề sức khỏe, do đó, các thông số liên quan đến chỉ số calo, các loại chất dinh dưỡng cũng rất cần thiết được in trên bao bì…

Thực ra, để có thể nắm được tất cả các thông tin về thị trường này, doanh nghiệp cần có khả năng nghiên cứu thị trường rất tốt, tuy nhiên để có thể tiếp cận và thực hiện nghiên cứu tại thị trường này rất khó do vốn cần rất lớn. Do đó, trong tương lai, có lẽ Chính phủ nên đưa ra thêm nhiều gói hỗ trợ thông tin liên quan đến đẩy mạnh nghiên cứu tại thị trường này. Ví dụ như nghiên cứu tìm hiểu sâu thị hiếu, sở thích, tiến hành nghiên cứu thực nghiệm trực tiếp về lựa chọn của người tiêu dùng khi nếm thử các loại gạo…; tập hợp thông tin các chuỗi tác nhân thương mại gạo cho doanh nghiệp; xây dựng cơ sở dữ liệu về các đối thủ cạnh tranh; xây dựng quy trình xuất khẩu mẫu… Sau đó chủ động chia sẻ thông tin này tới các doanh nghiệp gạo để các doanh nghiệp thuận lợi hơn nếu có dự định xuất khẩu sang thị trường này.

Dự kiến, với mức hạn ngạch thuế quan mà EU dành cho gạo Việt Nam theo cam kết EVFTA, kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam sang Thụy Điển sẽ tăng mạnh trong thời gian tới. Ảnh: T.T

Hiện tại gạo Việt Nam đã vượt Thái Lan về giá, tuy nhiên thị trường xuất khẩu của gạo Việt Nam ít hơn rất nhiều so với Thái Lan. Một số ý kiến cho rằng do gạo Thái Lan có thương hiệu hơn nhưng lại rẻ hơn, do đó thị trường rộng hơn, vậy làm cách nào để gạo Việt Nam gia tăng độ phủ sóng?

Gần đây vào thời điểm tuần thứ 2 tháng 8/2020), giá gạo trắng xuất khẩu 5% tấm Việt Nam cao hơn giá gạo cùng loại Thái Lan khoảng 5 -7 USD/tấn. Điều này trước hết phải khẳng định chất lượng uy tín gạo của Việt Nam ngày càng được cải thiện. Trong thời gian qua, lúa gạo Việt Nam ngày càng được cải thiện về năng suất và chất lượng. Hệ thống giống cũng rất đa dạng và ngày càng có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và trên thế giới. Rất nhiều biện pháp sản xuất lúa bền vững được áp dụng phổ biến như “3 giảm 3 tăng”, “1 phải 5 giảm”, SRI, hữu cơ hay hệ thống canh tác bền vững SRP. Hệ thống xay xát, chế biến, đóng gói cũng được cải thiện mạnh trong thời gian qua. Theo dõi những năm gần đây cho thấy, khoảng cách giá gạo trắng cùng phẩm cấp của Việt Nam ngày càng thu hẹp lại so với Thái Lan. Tuy nhiên, cũng cần thấy rõ có một số nhân tố ảnh hưởng tới giá của gạo trắng Việt Nam trong ngắn hạn, chủ yếu do nguồn cung của chúng ta thời điểm đó hạn chế trong khi nhu cầu nhập khẩu các nước khá cao nên giá gạo xuất khẩu của Việt Nam khá cao. Tuy nhiên, chênh lệch giữa giá gạo Việt Nam và Thái Lan này cũng không tồn tại sau đó 1-2 tuần.

Nhìn chung gạo Thái Lan đắt hơn gạo Việt Nam, chất lượng của họ ổn định, họ có kinh nghiệm làm thương hiệu, thị trường, nên họ tiếp cận trực tiếp vào nhiều thị trường. Hiện nay chúng ta cũng xuất khẩu gạo đi 150 nước trên thế giới. Việc tăng độ phủ sóng chỉ có thể thông qua việc nâng cao chất lượng, giá bán và quảng bá qua đó mang lại niềm tin cho người tiêu dùng. Bên cạnh đó, với những thị trường khó tính thì chúng ta phải tuân thủ các tiêu chuẩn yêu cầu khác nữa từ phía thị trường này như các yêu cầu về xã hội, môi trường…

Trong nhiều năm qua, ngành lúa gạo Việt Nam đã phát triển mạnh và đóng vai trò rất quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, quốc tế và ổn định xã hội. Ngành Lúa gạo ngày càng phát triển và đến nay năng suất lúa của Việt Nam cao nhất trong khu vực và thuộc nhóm nước có năng suất cao trên thế giới. Hệ thống giống lúa đa dạng, chất lượng lúa không ngừng được cải thiện.

Tuy nhiên, để có thể nâng cao uy tín, chất lượng và có sự cạnh tranh tốt với các quốc gia khác trên thế giới như Ấn Độ, Thái Lan, Camphuchia hay Myanmar thì việc sản xuất kinh doanh lúa gạo của chúng ta cần phải thực hiện và đầu tư bài bản hơn từ khâu đầu vào đến sản xuất và thương mại. Bài học từ giống lúa ST24, ST25 cho thấy việc đầu tư nghiên cứu giống là vô cùng quan trọng và cần được quan tâm hơn. Bên cạnh đó việc đẩy mạnh sản xuất theo quy trình sản xuất bền vững và hữu cơ đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm cũng rất quan trọng. Công tác sau thu hoạch, xây dựng chuỗi giá trị, phát triển công nghiệp chế biến đóng gói, xây dựng thương hiệu và phân phối đưa sản phẩm ra thị trường quốc tế cũng cần được sự hỗ trợ quan tâm của Nhà nước, Nhà nước cùng đồng hành với doanh nghiệp. Bên cạnh đó, để người nông dân gắn bó với cây lúa, để tỉnh trồng lúa yên tâm sản xuất lúa thì Nhà nước cũng cần có chính sách hỗ trợ mạnh hơn.

Myanmar hay Campuchia cũng sản xuất gạo thơm với số lượng lớn để cung ứng cho thị trường EU. Đây là sự cạnh tranh trực tiếp với gạo thơm thuộc dòng ST20, ST25 của Việt Nam. Nhưng đáng lưu ý là Myanmar hay Campuchia trồng lúa theo kiểu thủ công nên việc sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu không nhiều nên gạo rất được ưa chuộng. Vậy theo ông, cần nhìn nhận vấn đề này như thế nào để gạo xuất khẩu Việt Nam giữ được chỗ đứng tại thị trường Âu?

Camphuchia, Myanmar xuất khẩu gạo sang châu Âu nhiều hơn so với Việt Nam trong những năm qua là họ được hưởng ưu đãi về thuế so với Việt Nam. Đây là điều kiện rất thuận lợi đối với những nước này và họ xuất khá đều vào châu Âu, họ cũng hiểu thị trường hơn. Gạo của họ chủ yếu gạo sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân hóa học ít. Đây cũng là hướng đi mà Việt Nam cũng cần quan tâm. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam cũng bắt đầu được quan tâm và đang xây dựng những hành lang pháp lý, chính sách để phát triển. Chúng ta đã có nghị định nông nghiệp hữu cơ và chuẩn bị ban hành đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ. Bên cạnh việc sản xuất theo các tiêu chuẩn bền vững mà Việt Nam đang áp dụng ngày càng phổ biến thì sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ cũng là hướng đi tốt để xâm nhập vào thị trường khó tính như EU. Bên cạnh đó, việc sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ cũng giúp đảm bảo bền vững về môi trường. Trong thời gian tới thì cần có chính sách để hỗ trợ phát triển nông nghiệp hữu cơ mạnh hơn nữa.

Hiệp định EVFTA được xem là tạo điều kiện thuận lợi cho gạo Việt Nam xuất khẩu với những ưu đãi về thuế, và trước mắt là cam kết nhập khẩu 80 nghìn tấn gạo từ Việt Nam, vậy làm sao để gạo Việt Nam tối ưu cơ hội này, thưa ông?

Trong bối cảnh như vậy, thông tin về thị trường là hết sức cần thiết; do đó, trong thời gian tới, rất cần sự đóng góp của tất cả các bên như Đại sứ quán, Lãnh sự quán, Đài truyền hình Việt Nam, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ khác của Việt Nam ở nước ngoài, trong việc tăng cường thông tin, hỗ trợ liên lạc, giúp đỡ doanh nghiệp trong nước “vươn cánh tay dài” tới thị trường này. Đặc biệt, nên tăng cường kêu gọi các doanh nghiệp đã kinh doanh gạo trên thị trường này lập nên một diễn đàn chia sẻ, để giúp các doanh nghiệp khác cùng học hỏi kinh nghiệm như về các quy định về chất lượng, thủ tục xuất khẩu, sở thích, thị hiếu, kinh nghiệm xây dựng mẫu mã… Trong quá trình kêu gọi đóng góp thông tin từ các bên, cũng như xây dựng diễn đàn doanh nghiệp trên, vai trò của chính phủ sẽ rất quan trọng như một cầu nối giúp các bên có thể “gặp nhau”, để có thể cùng nhau trao đổi và hỗ trợ nhau cùng phát triển. Song song với đó, nên tận dụng thương hiệu “Gạo ngon nhất thế giới” để có thể tiến hành xúc tiến thương mại, chiếm lĩnh thị trường EU.

Thời gian vừa qua, các Bộ ngành cũng rất nhanh chóng hỗ trợ các doanh nghiệp và xây dựng văn bản hướng dẫn các doanh nghiệp rất kịp thời. Dự thảo Nghị định hướng dẫn quy trình đăng ký chứng nhận chủng loại gạo xuất khẩu vào EU để hưởng ưu đãi hạn ngạch của Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) vừa được Bộ NN&PTNT lấy ý kiến, trình Chính phủ thông qua. Bộ Công thương cũng tổ chức nhiều hội thảo để các doanh nghiệp trong đó có các doanh nghiệp lúa gạo tìm hiểu chia sẻ những cơ hội xuất khẩu vào EU.

Ngoài ra, thị trường châu Âu nhu cầu về các sản phẩm hữu cơ đang có xu hướng tăng cao. Chỉ tính riêng Vương quốc Anh đã đạt mức tăng trưởng 4,5% trong năm 2019. Quy mô thị trường có thể mở rộng đạt tới 2,5 tỷ Bảng trong năm 2020, đây sẽ là cơ hội đối với không ít doanh nghiệp Việt Nam, nếu chúng ta xây dựng được vùng nguyên liệu chất lượng, tăng cường sản xuất lúa theo hướng hữu cơ.

Trân trọng cảm ơn ông!

Thanh An (thực hiện)

Chủ đề:
Bạn đang xem danh mục: Thị Trường
Tin cập nhật
  • Người dân Nghệ An đỏ lửa nấu bánh chưng chi viện đồng bào vùng lũ

    Từ các trường học, đến những thôn xóm… những nồi bánh chưng ấm tình người dân xứ Nghệ đang đỏ lửa để kịp chi viện cho đồng bào vùng lũ. Những ngày qua, các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị… nhiều vùng bị cô lập bởi nước lũ. Hình ảnh những ngôi nhà bị […]

  • Hà Tĩnh khẩn trương cứu hộ người dân ra khỏi vùng ngập

    Việc hồ Kẻ Gỗ xả lớn cùng với lượng mưa trên địa bàn cao khiến nhiều vùng ở Hà Tĩnh bị ngập nặng, hàng chục nghìn hộ dân phải sơ tán. Do ảnh hưởng của đợt mưa lũ, hiện hàng nghìn hộ dân ở Hà Tĩnh đang bị cô lập, mặc dù lực lượng cứu […]

  • Góp ý cho Văn kiện của Đảng để “ý Đảng lòng dân là một”

    Việc thảo luận, lấy ý kiến nhân dân góp phần nâng cao chất lượng dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng đã được công bố ngày hôm qua 19/10 để lấy ý kiến rộng rãi […]

Sự kiện
  • Quốc hội chia sẻ đau thương, mất mát với các tỉnh miền Trung

    Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thay mặt Quốc hội gửi lời thăm hỏi ân cần đến đồng bào, chiến sĩ vùng bị nạn, cùng lời chia buồn sâu sắc đến các gia đình cán bộ, chiến sĩ hy sinh và người dân bị tử nạn. Sáng nay (20/10), Kỳ họp thứ 10 […]

  • Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: Không để dân ‘màn trời, chiếu đất’

    Thủ tướng yêu cầu các lực lượng phải sẵn sàng hơn nữa để cứu dân trên tinh thần “không được để dân đói rét, không để dân màn trời, chiếu đất”; tích cực cứu hộ, cứu nạn, nhưng phải đảm bảo an toàn. Chiều 19/10, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn […]

  • Bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Hội cho cán bộ cấp tỉnh, huyện năm 2020

    Ngày 19/10, tại Hà Nội, Trường Cán bộ Hội – T.Ư Hội Nông dân Việt Nam (NDVN) đã tổ chức khai giảng lớp “Bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Hội cấp tỉnh, huyện năm 2020” cho công chức, viên chức  Hội Nông dân cấp tỉnh, huyện và một số ban, đơn vị trực thuộc T.Ư […]

Tam nông