09:53 - 02/11/2017

Chuyển biến tích cực trong quản lý tài chính, ngân sách

Chiều 1/11, giải trình trước Quốc hội về 3 nội dung chính là thu, chi và bội chi ngân sách, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng đã phân tích, làm rõ những khó khăn, thách thức, đồng thời nêu lên nhiều điểm tích cực liên quan đến các nội dung quan trọng này.

Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng giải trình nhiều vấn đề quan trọng về tài chính, ngân sách chiều 1/11. Ảnh: Quochoi.vn.

Thu ngân sách cao hơn tăng trưởng kinh tế

Quá trình thảo luận tại hội trường và ở tổ vừa qua, có ý kiến cho rằng tăng trưởng GDP năm 2017 dự kiến đạt 6,7%, nhưng tại sao thu chỉ tăng thu 2,3% so với dự toán. Vì sao tăng trưởng kinh tế năm 2018 dự kiến 6,5% – 6,7%, lạm phát 4%, nhưng dự toán thu tăng có 6,4%; quy mô thu tính trên GDP giảm và không đạt mục tiêu đề ra; hay thu từ 3 lĩnh vực lớn là DN nhà nước, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực kinh tế ngoài quốc doanh không đạt dự toán…

Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng phân tích: GDP ước đạt kế hoạch nhưng trong báo cáo của Chính phủ cũng chỉ ra nhiều hạn chế, yếu kém như chất lượng tăng trưởng chậm được cải thiện, năng suất lao động chưa cao, sản xuất kinh doanh của nhiều DN còn khó khăn…

“Bản chất thì NSNN là thước đo quan trọng phản ánh sự phát triển và hiệu quả của nền kinh tế. Vì vậy, kết quả thực hiện chịu tác động chi phối cả từ yếu tố tích cực và những hạn chế yếu kém của nền kinh tế”- Bộ trưởng nói.

Dự toán thu năm 2017 được xây dựng trên cơ sở tăng trưởng kinh tế 6,7% và lạm phát 4%. Vì vậy, “trong điều kiện tăng trưởng kinh tế và lạm phát đạt kế hoạch thì thu ngân sách chúng ta đang ước vượt 2,3% là tích cực”- Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng nhấn mạnh.

Tương tự như trên, Bộ trưởng cho rằng dự toán năm 2018 là rất tích cực, tăng 8,6% so với thực hiện năm 2017, trong đó từ hoạt động sản xuất kinh doanh tăng 12,5% cũng cao hơn dự kiến tăng trưởng kinh tế (6,5% – 6,7%) cộng với lạm phát 4%. Sau khi bù trừ số giảm dự toán thu từ dầu thô, thu từ XNK thì tổng thu cân đối năm 2018 dự kiến tăng 6,4%.

Về số thu từ 3 khu vực chính không đạt dự toán (thu từ DN nhà nước ước đạt 92,3%, từ khu vực DN FDI đạt 95,1% và thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là 97,2%), Bộ trường cho rằng điều này có nguyên nhân là giao dự toán cho 3 khu vực ở mức rất cao so với thực hiện năm 2016 (DN nhà nước tăng 8,8%, DN FDI tăng 22,9% và khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tăng 23,8%), và cao hơn nhiều so với tăng trưởng kinh tế và lạm phát cộng lại. Vì vậy, mặc dù đánh giá thu không đạt dự toán, nhưng là mức tích cực so với thực hiện năm 2016. Trong đó DN FDI dự kiến tăng 16,9% so với 2016, ngoài quốc doanh là 20,3% và tổng hợp chung thu nội địa từ hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2017 tăng 14,1% cao hơn nhiều so với tăng trưởng kinh tế và lạm phát cộng lại.

Samsung, Formosa chưa đóng góp nhiều vào thu ngân sách

Các nguyên nhân khác được Bộ trưởng chỉ ra là dù kinh tế khởi sắc nhưng nhiều DN vẫn khó khăn; cơ cấu lại khu vực DN nhà nước và các tổ chức tín dụng còn chậm; tình hình sản xuất kinh doanh của một số tập đoàn, tổng công ty lớn trong lĩnh vực sản xuất ô tô, khai khoáng, thủy điện, khí thiên nhiên có đóng góp lớn vào NSNN năm nay rất khó khan. Đáng chú ý, cả 2 DN lớn đóng góp vào tăng trưởng kinh tế rất cao là Samsung và Formosa, nhưng thu ngân sách của 2 DN này không tăng nhiều do đang trong thời kỳ được hưởng ưu đãi đầu tư.

Về khó khăn của ngân sách Trung ương, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho biết: Cân đối thu ngân sách Trung ương bao gồm 4 khoản thu lớn, trong đó 3 khoản thu ngân sách Trung ương hưởng 100%, đó là thu dầu thô, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu và thu viện trợ. Đối với thu từ dầu thô, đây là khoản thu từng chiếm tỉ trọng 20% tổng thu (giai đoạn 2006-2010), nhưng thời gian qua giảm nhiều do giới hạn sản lượng và giá dầu thô có xu hướng ổn định ở mức thấp. Đến năm 2017 dự toán thu dầu thô chỉ chiếm có 3,2% trong tổng thu NSNN.

“Thực tế chúng tôi đánh giá thu dầu thô năm 2017 tăng khoảng 5.200 tỷ đồng so với dự toán, trong đó do sản lượng tăng 1 triệu tấn là tăng 3.300 tỷ đồng, cộng với giá bán tăng, nhưng tổng số thu từ dầu thô năm nay chỉ chiếm có 3,5% tổng thu cân đối, và chỉ bằng 1/2 số thu thuế thu nhập cá nhân”- Bộ trưởng nói rõ về tác động thu từ dầu thô.

Tỉ lệ huy động ngân sách trên GDP không quá cao

Trước ý kiến cho rằng tỉ lệ thu ngân sách trên GDP của Việt Nam cao chỉ sau Nhật Bản và Trung Quốc, tỉ lệ huy động thuế, phí cao hơn Thái Lan, Philippinese và Malaysia và đề nghị xem xét điều chỉnh chính sách thuế để đảm bảo tỉ lệ huy động ngân sách hợp lý giảm dần bội chi.

Bộ trưởng khẳng định tỉ lệ huy động ngân sách Việt Nam không phải quá cao. Cụ thể, tỉ trọng huy động và ngân sách nhà nước trên GDP của Việt Nam năm 2018 là 23,9% GDP, trong đó động viên từ thuế và phí có 19,7%. Trong khi theo báo cáo của IMF vào tháng 10/2017, tỉ trọng tổng thu ngân sách nhà nước trên GDP năm 2016 bình quân của các nước liên minh châu Âu là 44,3% GDP, các nước phát triển và mới nổi ở Châu Á là 25,5%, Trung Quốc là 28,2%, Ấn Độ là 21,3%, Thái Lan là 22,4%, Malaysia là 20,4%…

Mặt khác, Bộ trường đềnghị, khi so sánh số liệu thu ngân sách giữa các nước, cần chú ý đảm bảo việc so sánh dựa trên các tiêu chí đồng nhất và cùng bản chất. “Ví dụ, số thu ngân sách của nhiều nước thường chỉ là số thu của ngân sách của chính quyền Trung ương, trong khi số liệu của Việt Nam bao gồm cả 4 cấp ngân sách là ngân sách Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã”- Bộ trưởng minh chứng.

Đáng chú ý, theo Bộ trưởng tỉ lệ huy động vào NSNN từ thuế, phí có xu hướng giảm nhanh. Ông cũng bày tỏ cơ bản nhất trí với ý kiến một số đại biểu về việc cần xem xét để có những điều chỉnh chính sách thu theo hướng mở rộng cơ sở thu, siết chặt các ưu đãi về thuế, đảm bảo tính trung lập của thuế, điều chỉnh thuế suất phù hợp.

Để thực hiện nội dung cơ cấu lại ngân sách, Bộ trưởng thông tin, Chính phủ đang cố gắng để sớm báo cáo Quốc hội sửa đổi một số Luật thuế và Luật Quản lý thuế trong năm 2018.

Nợ thuế đang giảm

Trước những băn khoăn cho rằng Chính phủ đã triển khai quyết liệt thu nợ thuế, nhưng số nợ còn lớn? Bộ trưởng báo cáo, tổng số nợ thuế đến 30/9/2017 là 73.900 tỷ đồng. Trong đó, 28.221 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất là 38,2% tổng số nợ đọng thuế liên quan đến nợ lũy kế kéo dài nhiều năm do người nộp thuế đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, tự giải thể, tự phá sản, ngừng, nghỉ, bỏ địa chỉ kinh doanh hoặc đang thi hành án hình sự của 695.240 đối tượng, gồm 186.293 DN và 508.947 hộ kinh doanh và cá nhân. Chính phủ đã chỉ đạo, Bộ Tài chính đang tổng hợp phân tích, phân loại để báo cáo với Quốc hội xóa nợ.

Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho rằng: Trong mấy năm gần đây, công tác quản lý, thu hồi nợ đọng thuế đã có chuyển biến tích cực thể hiện qua số thuế nợ đọng có xu hướng giảm; đồng thời số thu hồi nợ thuế tăng.

Điều đáng mừng nữa là cấp ủy, chính quyền các địa phương, các bộ, ngành phối hợp rất chặt chẽ, đồng bộ với bộ Tài chính trong thu hồi nợ.

Kiểm soát được bội chi sau 10 năm

Liên quan đến chi ngân sách nhà nước và bội chi, Bộ trưởng cho rằng, việc chi ngân sách đang đi đúng hướng là tăng chi đầu tư, giảm chi thường xuyên. Đồng thời đảm bảo chi cho các chương trình mục tiêu quốc gia và chương trình mục tiêu. Trong đó, chương trình mục tiêu quốc gia đến nay đã được triển khai tương đối tốt.

Về bội chi, Bộ trưởng cho biết, năm 2015 Chính phủ đã báo cáo với Quốc hội xin cơ cấu lại phần bội chi, đồng thời cam kết sẽ giữ bội chi cả về số tuyệt đối và số tương đối trong giới hạn Quốc hội đã duyệt là không vượt 3,5% GDP và dưới 178.000 tỷ đồng.

Bộ trưởng khẳng định, năm 2017 là lần đầu tiên trong 10 năm gần đây chúng ta kiểm soát được bội chi. Đồng thời, nợ công cũng đang nằm tỏng mức trần cho phép.

Thái Bình
Chủ đề:
Bạn đang xem danh mục: Đầu tư, Kinh tế, Tiêu điểmDanh mục
Tin cập nhật
Sự kiện
Tam nông
  • Nông sản chủ lực của tỉnh Ninh Thuận gặp khó về đầu ra do dịch

    Sở Công Thương tỉnh tăng cường hướng dẫn, tư vấn hỗ trợ thông tin giúp HTX, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất quảng bá, bán sản phẩm qua website, sàn giao dịch thương mại điện tử, các trang mạng xã hội. Do ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, các giá mặt hàng nông sản chủ lực […]

  • Công trình nước sạch tiền tỷ bị bỏ hoang, dân thiếu nước sinh hoạt

    Đến mùa khô hạn hàng năm, xã đảo Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam lại lâm cảnh thiếu nước sinh hoạt. Người dân xã này cần một giải pháp căn cơ khắc phục tình trạng này. Thôn Long Thạnh Tây, xã Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam bốn phía là sông […]

  • Hiệu quả của mô hình “3 sạch” ở Nghệ An

    Trong những năm qua, Hội Nông dân (ND) các cấp tỉnh Nghệ An đã tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục cán bộ, hội viên nông dân và cộng đồng dân cư nông thôn tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường; xây dựng các mô hình điểm về […]