01:03 - 06/02/2017

“Chủ nhân đích thực” và con đường phía trước

Công cuộc xây dựng nông thôn mới là sự thay đổi lớn về địa vị chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cho người nông dân. Những điều kiện đảm bảo vai trò “chủ nhân”, năng lực “chủ thể” của người nông dân chỉ có được khi đủ đầy hai yếu tố: Năng lực pháp luật và năng lực hành vi.

Việt Nam, trước năm 1930, nông dân chiếm 98,5% dân số, cho đến nay, nông dân vẫn chiếm 49,7% trong tổng lực lượng lao động toàn xã hội. Cùng với sự biến đổi của lịch sử dân tộc, giai cấp nông dân đã có sự đổi thay rất nhiều cả về số lượng, chất lượng, điều kiện sản xuất và an sinh xã hội. Trong muôn trùng thay đổi đó, có một “giá trị bất biến” cho đến nay: Nông dân là chủ nhân của phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Nhận diện từ văn hóa xã hội

Dường như xã hội vẫn còn lúng túng đi tìm và khắc họa biểu tượng người nông dân từ khi nước nhà độc lập đến nay. Thời chống Mỹ xâm lược, ở bất cứ nơi nào, nông thôn hay đô thị, các họa sỹ vẫn khắc họa “chị nông dân” khỏe mạnh, áo nâu, tay cầm liềm, tay ôm bó lúa chín vàng bên anh công nhân, anh bộ đội và người trí thức. Và dường như motip này, vẫn còn đóng vai trò chủ đạo trong các tấm pano mỗi khi có đợt tuyên truyền, cổ vũ hoặc chấn hưng một hoạt động.

Nông dân đâu chỉ có sản xuất nông nghiệp, có lẽ chưa bằng lòng với cách nhìn nhận vậy! Nhà chính trị tư tưởng, Nhà thơ Tố Hữu đã  khắc họa một biểu tượng mới về người nông dân – có thể là đầy đủ hơn, có hồn và có cốt như chàng dũng sỹ Thạch Sanh của thế kỷ 20, “Lưng đàn, tay búa, tay giương nỏ/ Tay chống trời, tay chém trăn tinh”.

 

Hình tượng ấy đã đầy đủ về văn hóa, về lao động sản xuất, về đánh thù trong, giặc ngoài, về chống chọi với thiên tai, địch họa. Tuy nhiên, biểu tượng đó, vẫn chưa đủ thỏa lòng về nhận diện người nông dân trong hoạt động kinh tế xã hội, bảo vệ và dựng xây đất nước.

Nhận diện từ thực tiễn

Trong 15 năm giai đoạn 1960 – 1975, thời kỳ phát triển mạnh mẽ của HTX nông nghiệp, vì mục tiêu “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”, với hành động “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, giai cấp nông dân thời đó, đã đóng vai trò rất lớn cho mục tiêu Tổ quốc “độc lập tự do”. Lẽ ra, chặng đường đi tiếp của nông nghiệp, nông dân, nông thôn là phải củng cố, xây dựng với phương thức hợp lý cả về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất để giải quyết vững chắc cái ăn, cái mặc và từng bước xây dựng một nền nông nghiệp làm giàu, một nông thôn mới hiện đại, đậm đà bản sắc văn hóa Việt Nam mà trong đó, người nông dân là trung tâm của mọi phát triển. Nhưng, ít nhiều đã có sự chủ quan, có thể gọi là “kiêu ngạo cộng sản” sau chiến thắng 1975. Việc này, có thể hiểu là xuất phát từ những điều tự hào về lý tưởng thành công của mình trên con đường cách mạng, nhưng rồi đi quá đà dẫn đến chủ quan (nhận định của ông Phan Diễn – nguyên ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thường trực Ban Bí thư T.Ư Đảng trong xây dựng đường lối phát triển kinh tế chung nên đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế, xã hội – trong đó, có kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Và kéo theo là đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân bị suy giảm.

Tháng 8-1988, Nghị quyết 10 về “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” được ban hành và đi ngay vào cuộc sống, bởi Nghị quyết đột phá vào 3 khâu cơ bản là đất đai, tiêu thụ nông sản và xác lập quyền lợi đích thực của người nông dân. Vì thế, đã tạo nên chuyển động toàn diện, phát triển liên tục trong gần 30 năm qua. Thành tựu về phát triển nông nghiệp, nông thôn, xóa đói, giảm nghèo là một trong trong những thành tựu kinh tế nổi bật nhất của nước ta trong thời kỳ Đổi mới. Từ đó, mức thu nhập, an sinh xã hội của người nông dân không ngừng được cải thiện, nâng cao. Nông thôn có nhiều đổi thay với sự đầu tư, kết nối giao thông, điện, thông tin…công nghiệp về làng…Và chúng ta có quyền tự tin nhận định rằng, Việt Nam hội nhập – sự khởi thủy là nông nghiệp từ đất đi ra, từ lúa, lợn, thủy sản và cây công nghiệp đi lên do bàn tay, khối óc của người nông dân làm nên và có.

Bước vào thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập, đã xuất hiện nhiều thách thức mới trong nông nghiệp, nông thôn như: một số vùng phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng, công trình phúc lợi còn thiếu và yếu kém; môi trường ngày càng ô nhiễm; năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai thấp; thu nhập của người nông dân tăng chậm, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và đô thị, giữa người làm nông nghiệp với công nghiệp, thương mại dịch vụ ngày thêm doãng cách. Và hệ quả là những sa sút về văn hóa, đạo đức lối sống,  nông dân không yêu nghề nông nghiệp, nông thôn có những tiềm ẩn bất ngờ. Trước tình hình đó, Hội nghị lần thứ 7 BCH TƯ (khóa X), ngày 5-5-2008 ra Nghị quyết số 26 NQ-TƯ về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”; ngày 4-6-2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 800 QĐ- TTg về Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2010 – 2020, phấn đấu đến 2015 có 20% số xã, đến năm 2010 có 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới.

Chương trình xây dựng nông thôn mới, tuy chưa sánh ngang bằng “Khoán 10”, nhưng được người nông dân mọi miền đất nước đón nhận, và chủ động “đem sức ta giải phóng cho ta” với tư cách là chủ nhân của quá trình phát triển. Sự thay đổi lớn về cách nghĩ, cách làm ấy như làn gió mới hối thúc sức người, sức của, sức vóc người nông dân được “bung ra”. Hình hài nông thôn mới do người nông dân làm chủ và dựng xây, sau 5 năm thực hiện, nhiều tiêu chí đã có mức tăng cao:

– Tiêu chí về giao thông, năm 2010 có 3,23% số xã đạt, đến 9-2016 là 38,8%, cơ sở vật chất về văn hóa từ 2,3% lên 34,9%…).

– Nhiều địa phương dành 70 – 75% kinh phí cho xây dựng nông thôn mới, và hầu hết nguồn lực đóng góp của nông dân cũng dành cho tiêu chí làm nền phát triển bền vững như: 58,9% số xã đạt tiêu chí số 10 về tăng thu nhập; 88,1% số xã đạt tiêu chí số 12 về tạo việc làm.

– Tỷ lệ hộ nghèo nông thôn giảm từ 17,4% (năm 2010) xuống còn 8,2% (năm 2015), bình quân giảm 1,84%/năm. Hộ nghèo ở 63 huyện nghèo giảm từ 50,07% xuống còn 32,59%. Các xã đạt chuẩn nông thôn mới, khi bắt đầu thực hiện chương trình, thu nhập bình quân là 16 triệu đồng/người/năm nay đã đạt 28,4 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 11,6% xuống còn 3,6%.

– Đến tháng 9/2016, đã có 2.134 xã, 27 đơn vị cấp huyện đã hoàn thành 19 tiêu chí theo chuẩn nông thôn mới.

5 năm – thời gian còn ngắn trong cuộc cách mạng về xây dựng nông thôn, nhưng đã tạo ra sức sống mới từ bên trong người nông dân, từ mỗi làng quê chuyển mình để góp phần làm đổi thay nông thôn cả nước, với kết quả nổi bật nhất là phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế gắn kết với an sinh, phúc lợi xã hội, vì mục tiêu con người, nâng mức hưởng thụ trực tiếp cho người nông dân. Và nông dân đang đậm nét hơn với tư cách là chủ nhân xây dựng nông thôn mới.  (Xem biểu đồ)

Bài toán cần thêm lời giải

Xây dựng nông thôn mới là một cuộc cách mạng lâu dài, không ngừng nghỉ với đích đến: Nông nghiệp là hiện đại. Nông thôn là nông thôn mới. Người nông dân là chủ thể của quá trình phát triển. Tuy nhiên, quá trình đến được đích đó, sẽ phát sinh nhiều hơn những quan hệ đối với người nông dân về kinh tế, văn hóa, xã hội như: Vị thế, tư cách pháp nhân trong quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, kế hoạch sản xuất, xây dựng công trình; ký kết, thương thảo hợp đồng, hoặc giải quyết những tranh chấp về tài sản, tài nguyên môi trường; cao hơn nữa là quyền tham gia xây dựng chính sách, giám sát việc thực thi của cấp ủy, chính quyền và đội ngũ cán bộ.

Để tránh được “chủ nhân không đầy đủ” trong hiện tại, hình thành được “chủ nhân đích thực và hợp pháp” – giữ vai trò chính trong xây dựng nông thôn mới thì cần có nhóm giải pháp điều kiện làm “chủ nhân” được pháp luật bảo hộ cho hộ gia đình và cá nhân người nông dân. Hội Nông dân Việt Nam với vai trò, chức năng là “Người đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của người nông dân” cần tập trung vào một số nhóm giải pháp:

– Tập hợp nông dân, tổ chức nông dân sản xuất nông nghiệp, chế biến và tiêu thụ nông sản…thông qua các tổ liên kết, hợp tác, HTX… sản xuất và tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị hàng hóa hoặc ngành hàng, qua đó, xác lập pháp nhân kinh tế của hộ nông dân, tổ chức đại diện cho nông dân và cá thể người nông dân. Người nông dân sẽ không thể là “chủ nhân đầy đủ” khi sản xuất đơn lẻ, manh mún và thiếu tiềm lực kinh tế.

–  Hỗ trợ năng lực “chủ nhân” cho người nông dân bằng đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ về vốn, khoa học kỹ thuật, thông tin, kết nối thị trường, xây dựng thương hiệu nông sản và bảo vệ môi trường – đây là năm khó khăn lớn nhất mà từng hộ gia đình nông dân sản xuất nhỏ không thể tự mình vượt qua, không thể tự mình tự tin khi còn phụ thuộc, hoặc dễn “trượt ngã” trong quá trình phát triển nông nghiệp.

– Bồi dưỡng năng lực pháp luật thông qua hoạt động tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật, trợ giúp pháp lý cho nông dân; trong đó, tập trung vào những luật và chính sách có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, thiết thực như: đất đai, tài nguyên môi trường, hợp đồng kinh tế, pháp lệnh giải quyết đơn thư khiếu tố, luật phòng chống tham nhũng, pháp lệnh thực hiện dân chủ ở  xã, phường, thị trấn… Người nông dân là “chủ nhân” thực sự khi họ nắm vững pháp luật, tự bảo vệ mình trước pháp luật, tự tin nói lên tiếng nói của chính mình khi tham gia và giám sát thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới.

–   Tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của tổ chức Hội Nông dân, trọng tâm là nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ cán bộ Hội các cấp. Trong đó, coi trọng 2 cấp, cấp Trung ương là tổng hợp, tham mưu xây dựng chính sách, phản biện xã hội về chính sách có liên quan trực tiếp đến nông dân, nông nghiệp, nông thôn. Cấp cơ sở là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện, tham gia thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở xã phường, thị trấn về “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân hưởng thụ” trong công cuộc xây dựng nông thôn mới – Đây chính là phương tiện hữu hiệu, có công năng trong xây dựng và bồi đắp kiến thức, kỹ năng, thái độ của người nông dân giữ vai trò “chủ nhân” trong thực hiện 19 tiêu chí nông thôn mới đến thành công.

Người nông dân vốn được hiểu chung là quần chúng, là người chấp hành và làm theo đến người “chủ nhân đích thực”. Công cuộc xây dựng nông thôn mới là sự thay đổi lớn về địa vị chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cho người nông dân. Những điều kiện đảm bảo vai trò “chủ nhân”, năng lực “chủ thể” của người nông dân chỉ có được khi đủ đầy hai yếu tố: Năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Thực tiễn cho thấy, ở những nước mà quan hệ lao động trong giai đoạn phát triển ban đầu thì dễ tồn tại song song những “chủ nhân”, “chủ thể” hình thức và “chủ nhân”, “chủ thể” thực sự; “chủ nhân”, “chủ thể” hợp pháp và “chủ nhân” “chủ thể” tự phát. Một quốc gia mà được cho là quan hệ lao động lành mạnh, ổn định là khi những “chủ nhân”, “chủ thể” hình thức trở thành “chủ nhân”, “chủ thể” thực sự, và “chủ nhân”, “chủ thể” tự phát thành “chủ nhân”, “chủ thể” hợp pháp.

Đây cũng là bài toán nhiều ẩn số mà chính chúng ta cần tìm thêm lời giải.

   Hoàng Trọng Thủy- Ủy viên BCH Hội KHKT Nông nghiệp Việt Nam    

Chủ đề:
Bạn đang xem danh mục: Tam nông
Tin cập nhật
Sự kiện
Tam nông
  • Đồng Tháp: 5/8 xã biên giới đạt chuẩn nông thôn mới

    Chiều ngày 15/1, tại tỉnh Đồng Tháp, UBND tỉnh Đồng Tháp tổ chức buổi họp mặt mừng Đảng – mừng Xuân Tân Sửu năm 2021 và báo cáo kết quả nổi bật thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (2016-2020). Tại buổi họp mặt, ông Phạm Thiện Nghĩa, Chủ […]

  • Sức sống mới ở miền quê Hiệp Cường

    Hiệp Cường là một xã của huyện Kim Động – mảnh đất tọa lạc ở cửa ngõ của TP. Hưng Yên. Mảnh đất này đang sải những bước dài trên con đường đổi mới để trở thành xã nông thôn mới kiểu mẫu vào năm 2025. Phát triển kinh tế nông nghiệp vững chắc Từ […]

  • Thanh Chương phát triển nông nghiệp toàn diện gắn với xây dựng nông thôn mới

    Trong những năm qua, huyện Thanh Chương luôn chú trọng phát triển các mô hình kinh tế nông nghiệp, sản phẩm OCOP, quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp tập trung gắn với tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo chuỗi liên kết giá trị và phát triển bền vững, hướng đến phát triển nông […]