08:11 - 21/02/2021

An Tiêm – Làng của búa và đe

Tổng An Tiêm thời ấy…

Chả biết các vùng, miền khác thì thế nào chứ thời những năm 70 của thế kỷ trước, cả huyện Thụy Anh (bây giờ là huyện Thái Thụy) mênh mông bể sở của tôi với hàng vạn dân có lẻ mà chỉ có “nhõn” hai trường cấp 3. Ngôi trường thứ nhất gọi là trường Đông đứng chân trên đất thôn Quang Lang, xã Thụy Hải. Gọi là trường Đông bởi nó nằm ở phía Đông, ngay sát bờ biển Đông. Ngôi thứ hai gọi là trường Tây, vì lẽ nó nằm ở phía Tây của huyện Thụy Anh. Trường Tây, nơi tôi học nằm trên đất làng Bái Thượng – cái làng có truyền thống hiếu học và trọng tình trọng nghĩa nhất vùng, thuộc xã Thụy Phúc.

Hội thi nghề rèn làng An Tiêm.

Từ làng Gang của tôi đến Bái Thượng hơn 8 cây số. Thuở khốn khó cơ hàn ấy, ăn còn chả đủ thành ra có nằm mơ giữa trưa cũng chẳng dám ước mình có được đôi dép, hay một đôi tất chân tử tế chứ đừng nói tới những “món to phe” như cái xe đạp để tới trường. Vậy nên, vì muốn “thoát nghèo” bằng cách học hành, suốt ba năm trời, tôi và đám bạn bè buộc phải kiên nhẫn quanh năm ngày hai buổi (rất nhiều khi là ba buổi) nhọc nhằn chân đất cuốc bộ tới trường bằng con đường tắt dài 5km qua xã Thụy Chính; Tiếp theo là đi xuyên ngang qua làng An Tiêm và một cánh đồng thẳng cánh cò bay là đến làng Bái Thượng.

Thuở “ngày xửa… ngày xưa”, đứng trước hai chữ An Tiên không phải là chữ “làng” quen thuộc mà là chữ “tổng”, tổng An Tiêm thuộc huyện Thụy Anh, phủ Thái Bình. Sử cũ chép rằng, tổng An Tiêm ngày xưa ấy lớn lắm, ôm gọn cả cái làng Bái Thượng nơi mà về sau ngôi trường cấp 3 Tây Thụy Anh của tôi được dựng lên. Ngày nay, An Tiêm nằm trong “biên chế” của xã Thụy Dân, huyện Thái Thụy, quê lúa Thái Bình. Thuở tôi còn là cậu học sinh trường huyện đầu trần chân đất ấy, làng An Tiêm quanh năm sớm tối nhộn nhịp tưng bừng với những tiếng đe, tiếng búa rộn ràng, náo nhiệt còn hơn cả một nhà máy cơ khí “siêu to khổng lồ”.

Thú thật, thời gian đầu, mỗi sớm mỗi chiều đi qua An Tiêm bị cái thứ âm thanh chát chúa hỗn tạp của đe của búa, quả thực, bởi chưa bao giờ phải va chạm, đám học trò ngô nghê chúng tôi có cảm giác rất chối tai, khó chịu. Nhưng dần rồi cũng quen. Rồi thì thấy thú vị bởi cái không khí vui tai giòn giã khi đang trong cảnh thanh bình dân dã thôn quê chợt dội lên muôn vàn những tiếng “cục…cạc” mà chúng tôi “khai sinh” cho An Tiêm một tên gọi khác: “làng cục… cạc”.

“Làng cục… cạc”

Gọi là “làng cục…cạc” vì khởi thủy ngành nghề truyền thống của An Tiêm là nghề rèn với những đe và búa; với những sắt thép cùng than hồng rực lửa; thêm những tiếng mài dũa, cắt gọt kim khí. Sử liệu cho hay, An Tiêm là một trong những địa chỉ nghề rèn lâu đời nhất trong cả nước Việt, với tuổi đời hơn 731 năm.

Lật lại những trang sử cũ thấy người xưa chép rằng, nghề rèn làng An Tiêm có từ trước năm 1288, khi Hưng Đạo Đại Vương lập doanh trại ở làng Cao Dương (tên cổ của tổng thời Vạn Đồn xưa) (nay là xã Thụy Hồng – Thái Thụy – Thái Bình) để chuẩn bị sản xuất, tu sửa vũ khí cho quân đội đánh giặc Nguyên Mông. Để có vũ khí, Hưng Đạo Đại Vương đã cho mở lò rèn vừa là sửa chữa vũ khí vừa đồng thời chế tạo thêm binh khí mới cung cấp cho quân đội. Nhằm đáp ứng mục đích của mình, bốn trong số năm người thợ cả chủ công của làng An Tiêm đã được người của Hưng Đạo Đại Vương gọi tới làng Cao Dương nói trên để mở bễ lò rèn phục vụ công cuộc chống giặc ngoại xâm của triều đại nhà Trần.

Sau chiến thắng quân Nguyên Mông, ghi nhận sự đóng góp to lớn của nghề rèn và để ban thưởng cho tinh thần ái quốc của những người thợ rèn tài năng và đức độ của làng An Tiêm, đức vua anh minh Trần Nhân Tông đã phong sắc cho 5 người thợ cả tay rèn trứ danh ấy là “Ngũ vị sư tổ nghề rèn!”. Kể từ đó mà nghề rèn làng An Tiêm phát triển, tồn tại cho đến tận thời đại 4.0 này.

Ngôi đình cổ kính làng An Tiêm được xây dựng vào năm 1830, trùng tu vào năm 1895 – năm Thành Thái thứ 7 trên cơ sở tôn tạo nền đình cũ. Nơi đây không chỉ là chốn thờ phụng các bậc thành hoàng làng là những vị thần có công với nước mà còn phối thờ 5 vị tổ sư nghề rèn. Nhằm giữ lửa nghề rèn, hàng năm vào các ngày 14, 15, 16 tháng 3 âm lịch, ngày mở hội đình làng, người dân An Tiêm lại tổ chức Hội thi nghề rèn truyền thống. Hội thi không chỉ là dịp để các thợ rèn trong làng tri ân tưởng nhớ công đức trời biển “Ngũ vị tổ sư nghề rèn” – những người đã có công tạo dựng nghề rèn ở An Tiêm, mà còn là dịp để người thợ rèn giao lưu, học hỏi kinh nghiệm cổ động phát triển nghề rèn truyền thống của người dân làng An Tiêm trước mắt cũng như lâu dài theo hướng bền vững.

Do hầu hết các sản phẩm làm ra từ các lò bễ trong làng đều có “thương hiệu” mà một thời, nghề rèn An Tiêm từng thăng hoa đầy vàng son. Ngày đó, ở cái làng An Tiêm vô cùng rộng đất đông dân ấy “trăm hoa đua nở”, nhà nhà lập bễ; người người đua nhau dốc sức quai búa và “trôi” các loại nông cụ cùng đủ loại đồ dùng sinh hoạt mong làm hài lòng muôn người tiêu dùng trong và ngoài địa bàn huyện Thái Thụy để có cơ hội làm giàu cho mình, và duy trì phát huy được nghề tổ.

Cũng vẫn là những ngày đó, trừ những khi vào vụ thu hoạch, cấy hái… còn không, quanh năm ở An Tiêm bếp lò rèn liên tục thi nhau bền bỉ miệt mài đỏ lửa. Cả làng ngợp trong cái không gian đặc trưng đầy sinh động, náo hoạt bởi những tiếng lửa reo vui từ những bếp than hồng; bởi cái âm thanh phì phò khoan thai từ tốn bổng trầm của những ống bễ thổi lửa; của những tiếng nổ lép bép và những tia lửa hồng bắn ra từ lò than. Rồi nữa là âm vang những tiếng đe, tiếng búa hì hục chạm vào nhau lúc nhanh khi chậm; của những âm thanh mài dũa, cắt gọt từ lúc chỉ là những thanh sắt thô thiển cho tới khi mang hình hài của những chiếc liềm, con dao, cây kéo… giữa một làng quê thuần phác, thanh bình như trong cổ tích.

Chỉ là những người nông dân thuần khiết chân lấm tay bùn, ấy thế nhưng, một khi đã ngồi trước lò than biến những cục sắt vô tri vô giác trở thành những công cụ lao động có hồn, có vía, người làng An Tiêm trở thành những người nghệ sĩ – thợ kim khí vô cùng tài hoa, chuyên nghiệp. Ngày chưa xa ấy, người An Tiêm đâu chỉ hành nghề trong cái làng bé nhỏ chật hẹp của mình mà họ còn chia nhau đi “kiếm cơm” trên “từng cây số” của miền quê Sơn Nam Hạ Thái Bình, thậm chí là cả các địa phương lân cận, như Hải Phòng, Hải Dương và nữa là Nam Định.

Làng Gang của tôi cũng là một trong những điểm dừng chân đôi tháng một lần đều đặn “đến hẹn lại lên” của “gánh lò rèn” nọ làng An Tiêm. Mỗi bận họ xuất hiện, đám trẻ trâu vắt mũi chưa sạch chúng tôi lại có cơ hội vui như Tết vì được kéo bễ; được vụng trộm len lén hì hục vác những cây búa tạ, búa cân mà quai đe tập làm người lớn; được tranh nhau những cục xỉ than với đủ dáng hình kỳ thú mang về chơi…

Ông Ngô Thanh Quang và những sản phẩm chuẩn bị xuất ngoại.

Nốt trầm của làng rèn

Đã tưởng những tháng năm hoàng kim ấy của người An Tiêm sẽ nối dài đến vô tận cái sự hưng thịnh mãi mãi để những lò rèn quanh năm đỏ rực nghìn độ lửa biến sắt thép thành dao, thành liềm… giúp người nông dân “ăn nên, làm ra” nào ngờ, một thời gian, hàng loạt những lò than hồng thi nhau nguội dần, nguội dần rồi tắt ngấm.
Đó là cái lúc chuyển đổi từ bao cấp sang cơ chế thị trường. Đất nước “mở cửa” cơ hội cho hàng nước ngoài tràn vào kích thích cái tâm lý “đám đông” sính hàng ngoại khiến cho những “con dân” của “Ngũ vị sư tổ nghề rèn” làng An Tiêm rơi vào thảm cảnh khóc cũng không xong mà cười cũng chẳng thể, bởi tốn không biết bao mồ hôi, trí lực mới có thể làm ra cây liềm, con dao… nhưng rồi không thể bán được.

Nhìn cha chú, anh chị em quanh năm phải quần quật bám mặt với những bễ rèn nóng như những cái lò nhiệt hạch khiến cho nước da trở nên đen trùi trũi. Và mỗi một tiếng quai búa bật lên từ trên những thỏi sắt nghìn độ lửa đặt trên mặt đe là lại thêm những giọt mồ hồ hôi trên mặt rơi như mưa xuống ngực áo vốn đã ướt đẫm mà hàng hóa làm ra ế ẩm, dẫu rất muốn nối nghiệp tổ tông, nhưng vào cái thời điểm ấy, “một bộ phận không nhỏ” lứa hậu sinh ở An Tiêm đâm ra bất mãn với cái nghề gia truyền đã nuôi sống biết bao kiếp người của làng. Người ta không còn thiết tha mặn mà gì với cái nghiệp của ông bà cha mẹ, anh chị nữa. Người ta tìm cách “thoát nghèo” bằng những con đường riêng và tư duy riêng của mỗi người.

Đã có lúc làng An Tiêm vắng hẳn tiếng đe búa, tiếng reo vui háo hức của những bễ than hồng và những tiếng xèo xèo khi thành phẩm được nhúng vào ang nước làm nguội trong quá trình “trôi”. Đó chính là thời điểm làng rơi vào cảnh thanh bình… đến đáng sợ. Nhưng rồi vì không muốn mắc lỗi với tổ nghề và muốn được tiếp tục khẳng định giá trị hữu cơ, giá trị tinh thần của làng nghề, người An Tiêm đã vịn vào nhau mà đứng dậy. Và điều đầu tiên mà người An Tiêm nghĩ đến là, muốn tồn tại và phát triển thì trước hết phải biết tự “đổi mới” tư duy của bản thân.

Chia sẻ về những ngày tự “làm mới mình” ấy, ông Phạm Ngọc Trìu (người làng An Tiêm) cho hay, muốn cạnh tranh được với hàng ngoại nhập, những người thợ rèn An Tiêm buộc phải đưa những tiến bộ khoa học vào sản xuất. Đồng thời dứt khoát tạm biệt phương thức sản xuất thủ công truyền thống bằng hình thức cơ khí hóa làng nghề. Thời gian thấm thoắt thoi đưa, nay thì ở An Tiêm đã có gần 60 cơ sở làm rèn được trang bị máy cán thép, máy cắt gọt kim loại, máy búa… sản xuất theo hướng tập trung quy mô lớn và phát triển thị trường tiêu thụ.

Cũng là ông Trìu phấn chấn cho biết thêm, nếu như trước đây với phương thức thủ công một ngày mỗi tổ thợ chỉ làm được 20 con dao đã là đạt năng suất “khủng”, nhưng nay nhờ ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất, chỉ trong một lúc người ta có thể cắt được 200 con dao. Còn anh Anh Phạm Văn Quyền thì hoan hỉ tiết lộ thế này: “Làm nghề rèn bây giờ không còn sợ chết đói nữa rồi. Vì chúng tôi đã có thu nhập rất ổn định. Nhờ có “cái anh 4. 0” mà mỗi ngày, tính ra, chúng tôi cũng được từ 300 – 500 nghìn đồng. Người An Tiêm không còn nỡ ngoảnh mặt đi với nghề mà tiên tổ truyền lại nữa rồi bởi nghề đã nuôi sống người thật rồi!.

Mới hôm nào đó, con dao, cây kéo… của làng rèn An Tiêm bị phần lớn người tiêu dùng quay lưng về hình thức mẫu mã và chất lượng thì nay, chúng đã tự tin trở lại với người tiêu dùng trên khắp cả nước. Không dừng lại ở đó, sản phẩm rèn của người An Tiêm nay đã chính thức vượt ra khỏi biên giới lãnh thổ để có mặt tại thị trường thế giới. Người đi tiên phong trong việc đưa con dao, cây kéo… ra khỏi lũy tre làng An Tiêm là ông Ngô Thanh Quang.

Từng đã có lúc lóc cóc chạy xe máy vượt hàng trăm cây số mỗi ngày rong ruổi khắp con đường, lối xóm ở các vùng quê, khu phố để chào bán từng cái dao, cái kéo nhưng lâu nay, nhờ biết khai thác những tiến bộ của công nghệ cũng như sử dụng vật liệu thép carbon để chế biến sản phẩm, trung bình mỗi tháng, xưởng rèn của ông xuất bán được hơn 3 vạn con dao các loại.

Mỗi con dao có giá trung bình khoảng 30 ngàn đồng, tính ra doanh thu mỗi tháng lên đến cả tỷ đồng. Đặc biệt, từ lâu, sản phẩm của ông Quang đã được người tiêu dùng nước Đức – một trong những thị trường khó tính nhất nhì thế giới – chấp nhận. Nhờ đó, đều đặn mỗi tháng gia đình ông Quang xuất xưởng sang thị trường Đức hơn 4.000 sản phẩm gồm đủ các loại dao. “Trung bình tháng nào tôi cũng bán được gần 300 triệu đồng tiền dao sang bên Đức anh ạ!” – ông Quang không hề giấu diếm.

Đình làng An Tiêm – Di tích Lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia.

“Giúp người chính là giúp mình!”

Với quan điểm nhân văn ấy, từ ngày mở xưởng rèn dao, ngoài những thành viên trong gia đình, ông Ngô Thanh Quang đã – đang tạo công ăn việc làm thường xuyên cho gần 20 lao động gồm những người bà con “trong làng ngoài xóm” với mức lương bình quân dao động từ 4,5 triệu tới gần 15 triệu đồng/tháng. Tận tâm với nghề tổ, với những người bà con của mình, ông Ngô Thanh Quang đã rất xứng đáng khi vinh dự nhận được nhiều phần thưởng cao quý của Trung ương cũng như địa phương. Đặc biệt, với thành tích lao động xuất sắc của mình, năm 2019, ông Ngô Thanh Quang được trở thành một trong 63 tấm gương “Nông dân Việt Nam xuất sắc 2019”, do Trung ương Hội Nông dân Việt Nam trao tặng.

Cách đây ít bữa, nhân việc lên Hà Nội gặp gỡ trao đổi với đại diện của bạn hàng nước ngoài, gặp tôi ông Quang kể, năm nay mặc dù đại dịch Covid – 19 tác yêu tác quái gây ra muôn vàn khó khăn cho không riêng gì bản thân mà còn với tất cả người làm nghề rèn An Tiêm. Nhưng cơ sở của ông Ngô Thanh Quang vẫn cứ “túc tắc phát triển” một cách bền vững, tất nhiên là cái sự “ăn nên làm ra” không thể bằng như năm 2019 được.

Để “mục sở thị” làng rèn An Tiêm hiện thời, tôi nói với ông Quang sẽ thu xếp để sang làng An Tiêm thăm cái xưởng rèn vừa mới lại tiếp tục “lên đời” để mở rộng quy mô sản xuất của ông ấy. Sau cái cười hiền, người đàn ông thuộc thế hệ 7X với gương mặt phong sương và thuần khiết ấy bảo, chờ tháng 3 tới khi hoa xoan nở tím biếc và hoa gạo bung nở thắp lửa trời đất, ngày làng An Tiêm mở hội đình và tổ chức thi tay nghề rèn truyền thống, lúc đó mời anh em, du khách về hội làng sẽ vui hơn.

Hội đình làng An Tiêm năm nay, nhất định tôi sẽ thu xếp để có thời gian mà về với làng An Tiêm những mong có cơ may tìm lại ký ức thuở còn là anh học sinh trường huyện và hơn tất cả nữa là, để được nghe câu hát truyền tụng muôn thưở nay, rằng: “Chẳng tham ao gỗ cá bè. Chỉ tham cái búa, cái đe thợ rèn” vút lên phơi phới trong tiếng sấm đầu mùa tháng 3 và sau cơn mưa rào đầu Hạ, cầu vồng bảy sắc hiện ra báo hiệu những mùa vàng phồn thực, viên mãn.

Lê Công Hội

Chủ đề:
Bạn đang xem danh mục: Văn hóa
Tin cập nhật
Sự kiện
Tam nông
  • Nuôi lợn rừng lai thu lợi nhuận cao

    Những năm gần đây, tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã xuất hiện nhiều mô hình chăn nuôi hiệu quả phù hợp với điều kiện nhiều hộ nông dân. Trong đó mô hình kinh tế trang trại chăn nuôi heo (lợn) rừng lai đang được nhân rộng, góp phần xóa nghèo và làm giàu […]

  • Hàng chục hecta chuối bị bệnh vàng lá, nông dân ngậm ngùi chặt bỏ

    Nhiều nông hộ trồng chuối ở Lào Cai đang điêu đứng vì buộc phải chặt bỏ cả vườn chuối do bị nhiễm bệnh vàng lá Panama. Vay hơn 100 triệu để trồng chuối, sắp cho thu hoạch thì cả vườn bỗng dưng đổ bệnh không thể cứu vãn. Chẳng còn cách nào khác, anh Thào […]

  • Nghề làm muối ở Bến Tre “bỏ thì thương, vương thì tội”

    Bến Tre là một trong số ít địa phương của cả nước duy trì được nhiều diện tích muối thương phẩm. Đây là nghề sản xuất truyền thống rất vất vả nhưng hiệu quả kinh tế không cao do giá muối bấp bênh. Hướng đi nào cho hạt muối Bến Tre, đây là vấn đề […]